Chương 1 NHUNG VAN BE LÝ LUẬN VE QUYEN TỰ ĐỊNH BOAT CUA DUONG SỰ TẠI TÒA AN CAP SƠ THAM 11. Khái niệm, đặc điểm va ý nghĩa của quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thâm Quyên con người là giá trị phố quát và tat cA người dan ở quốc gia nao cũng đều mong muôn quyên của mình được bão dam. Đôi với Việt Nam, bảo vệ và thúc đây quyên con người lả mục tiêu sáng suôt của Dang và nha nước ta trong nhiều thập ky qua. Điều nảy được thể hiện ở nhiều phương diện, đặc biết là trong xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tô tung dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) là quyền tự định đoạt của các đương sự. - Khải niệm Thứ nhất. vê thuật ngữ “tự đinh đoạt” và “quyén tự định đoạt” Ở góc đô pháp lý “qnyŠzi” là khái niém dùng dé chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo dam cho chủ thể thực hiện, ma theo đó, chủ thể được làm, được hưởng ma không ai được hạn chế, ngăn can hay tước đoạt. Hoặc cũng có thé hiểu, "quyén" với nghĩa là việc chủ thé được lam một việc gì hay yêu cau chủ thê khác phải thực hiện hay không thực hiện việc gì vì lợi ích của mình hoặc người khác.
Như vây, “quyên” được pháp luật ghi nhận và bao dam thực hiện, gắn liên với các chủ thé và được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc thực hiện hanh vị của các chủ thể. Tác giả cho rằng “đinh doat’ sở di được ghép bởi hai từ “@uyết aimh” va “đoạt (dat) được ”, là quyên quyết định đứt khoát, dua vào quyền hành tuyệt đồi của mình dé đạt được những quyên lợi, lợi ích ma mình mong muốn Bắt nguồn từ những quan hé x4 hội trong đời sống hang ngày, con người có quyên định đoạt đối với những thứ thuộc sở hữu của minh ma không ai có quyền can thiệp Theo từ điển Tiếng việt thì “mi đoạt” nghĩa là "quyết dink đút khoái. đưa vào quyền hành tuyệt đối của minh”, con “quyền” nghĩa là "điều mà pháp luật hoặc 8 xã hội công nhận cho được hướng được làm, được doi hỏi “!. Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ hoc thì quyền tự đính đoạt của đương sự là quyền ma pháp luật tô tụng dân sự (TTDS) công nhận cho đương sự được tự mình thực hiện một cách tuyệt đôi trong việc đưa ra những quyết định hay định đoạt đổi với việc giải quyết tại Tòa án.
Quyền tự định đoạt của đương sự hướng tới mục đích là dé bảo vệ, bão đảm các quyên, lợi ich hợp pháp của minh. Và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật hoc của Trường Đại học Luật Ha Nai, giải thích “Quyén tổ tung đân sự của đương sự tư quyết dinh việc bảo vệ quyền, loi ich hop pháp của họ tại Tòa an. đương sự có quyền quyễt định việc khởi kiện vụ an dan sự đề bảo vệ quyền. lợi ích hợp pháp của minh: rút don kiên, thay đôi yêu cầu khi Rhởi kiên, hòa giải với đương sự bên kia’? Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một sô quan điểm về khái niệm quyên tự định đoạt của đương sự đưới góc nhìn là một quyên năng pháp lý của đương sư hoặc là môt nguyên tắc cơ bản của luật TTDS.
Nguyễn Mạnh Bách cho rang “Quyển tị dinh doat ia các bên duong sự có quyền điều khiển vu kiên và Thâm phán phải giữ thé trung lâp “5 Theo TS. Nguyễn Công Bình: “Quyên tr định đoạt của đương sự là quyền của duong sự trong việc tư quyết đinh về quyền, lot ich của họ và sự lựa chọn các biện pháp pháp I} cần thiết đề bảo vệ quyén, lợi ích đó””. Tác gia Lê Minh Hải cho rằng “Quyén tự dinh đoạt của đương sự trong TTDS ia tông thé các quyền của đương sự được guy phạm pháp luật TTDS ghi nhân và bảo vệ trong việc ưa chọn và tự mình quyết định các hành vi lÕ tung nhằm bảo vê quyền lợi ích hop pháp của mình trong quả trình giải quyết VVDS"* Dựa vào những căn cứ trên, tac giả cho rằng quyên tự định đoạt là quyền chủ thể tự mình quyết định về những thứ thuộc sở hữu của mình vả được pháp luật Việt Nam ghi nhận. + Viên Ngônngữ học (2003), Từ diễn Thing Việt, Nab Di Nẵng, tr815 ` Trường Daihoc Luật Hi Nội (1999), Từ đền giải thích từ ng Luật học ,224 “ Nguyễn Manh Bách (1906), Luậttô tung din sw Việt Num Qưược giải), Nebo Đông Nai, 196,74 ” Trường Daihoc Luật Hà Nội (2017), Giáo tinh Luật tô trng din sự Vật Nam, Nob CAND, Hi Nội, trậ7 * Lê Minh Hii 2009), Về nguyin tắc tự định đoạt của đường sơ trong Tổ trng din sự, Tạp chỉ Nhà nước và Pháp hật,tr35-36 9 Thứ hai, đương sự là một trong những chủ thé không thể thiếu trong qua trình Tòa án giải quyết VVDS, đương su có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTDS, bởi vì lợi ích của ho là nguyên nhân va mục đích của quá trình tô tụng.
Vi vậy, việc cân hiểu khái niệm “đương sir” là rat quan trong Theo từ điển Han Việt thi đương sự được viết là "đương sự nhân” đây là cum từ hán việt được sử dung dé chỉ người tham gia trực tiép vào vụ án hoặc tranh chap pháp lý bao gồm người khởi kiên và người bị kiện. Dưới góc đô pháp lý, theo Từ điển Luật học năm 2006 thì đương sự được hiểu là “Ca nhân, pháp nhân tham gia TTDS với thư cách la nguyên don hoặc bi đơn hoặc người có quyền lợi, ngiữa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại Toa an nhân dan (TAND) trong các vụ Kiện về đân suc kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao đông '®. Theo Từ dién Luật học của Mỹ, trong cuén "Black's Law Dictionary”, đương sự được định nghĩa là: “tgười Guava hoặc chỗng lại người đưa ra việc kiện" Trong TTDS thì “đương sự trong VVDS là người tham gia té tung đề bảo vệ quyén và lợi ich hợp pháp của mình bảo vệ lợi ich công công.
lợi ich Nhà nước thuộc lĩnh vực minh phụ trách đo có quyền và nghia vụ có liên quan đến VVDS" Co thé thay các nha luật học đều có một quan niệm chung, đương sự lả những chủ thé không thé thiéu trong TTDS vi có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong VADS. Vi vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015 quy định chỉ tiết thì “Đương sự trong VADS là cơ quan, 16 chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyén lơi. ngiữa vụ liên quan". Trong đó: - Nguyên don trong VADS a người khởi kiện, người được cơ quan, tô chức, cá nhân khác do BLTTDS năm 2015 quy định khởi kiện dé yêu cau Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tô chức do BLTTDS năm 2015 quy định khởi kiện VADS dé yêu câu Tòa an bao vệ lợi ích công cộng, lợi ich của Nha nước thuộc lĩnh vực minh phụ trách cũng là nguyên đơn. ” Bỏ Twpháp - Viễn nghiên cứu khoa học pháp ý (2006), Tử điển Luật hoc, Hi Nồi !9 Bryan A. Gamer (1891), Black’s Lai Dictionary 10 - Bi đơn trong VADS là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bi cơ quan, tô chức, cá nhân khác do BLTTDS năm 2015 quy định khởi kiện để yêu câu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. - Người có quyên lợi, nghia vụ liên quan trong VADS là người tuy không khởi kiên, không bi kiện, nhưng việc giải quyết VADS có liên quan đến quyên loi, nghĩa vụ của họ nên ho được tự mình dé nghị hoặc các đương sự khác dé nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tó tụng với tư cách la người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp việc giải quyết VADS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vu của một người nao đó ma không có ai dé nghị đưa ho vào tham gia tổ tung với tư cách lả người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tô tung với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy có rat nhiều những quan điểm khác nhau về khái niệm quyên tự định đoạt của đương sự nhưng có thé thay điểm chung của quyền tự định đoạt của đương sư là khả năng của đương sự trong việc tự do quyết định các biện pháp tổ tung nhằm bão vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tô tung tai Toa án. BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận quyên tự định đoạt của đương sự trong TTDS tại Điều 5. Pháp luật dan sự đã có những quy định tương đôi cu thể về quyên tự định đoạt của đương sự đó 1a quyên yêu câu Tòa án bảo vệ quyên lợi của minh trong trường hợp có tranh chap.
Khi có quyền, lợi ich hợp pháp bị xâm phạm việc khởi kiện hay không khởi kiên là do đương su tư quyết định. Sau khi khởi kiện việc có thay đôi nội dung khởi kiên hay không, có théa thuận giải quyết việc kiện hay không là hoàn toàn phụ thuộc vảo ý chi của các đương su. Điêu này đã thé hiện đương sự hoàn toan có quyên chủ động trong việc giải quyết các mâu thuẫn, các tranh chap hoặc các van dé có liên quan đến quyên, lợi ích hop pháp của họ. Đây chính là cơ sở thực tiễn để quy định quyên tự định đoạt của đương sự trong TTDS Tuy nhiên, việc đảm bảo thực hiên quyền nảy trên thực tiễn có được thực hiện triệt dé hay không còn phụ thuộc vảo nhiêu yêu tô khác nhau đặc biệt là Tòa án — cơ quan xét xử của Nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giải quyết tranh 14 chấp có tạo điêu kiện dé cho các đương sự thực hiện tốt các quyên và lợi ích hop pháp của minh ma pháp luật đã quy định hay không.
Thứ ba, tùy vào các cấp xét xử sơ thâm hay phúc thấm ma đương sự có quyền tự định đoạt khác nhau. Trong viết nay, tác giả giới hạn phạm vi quyên tự đính đoạt của đương sự trong “Téa dn cấp sơ thẩm”. Đâu tiên, “sơ thai là theo từ điển Tiếng Việt nghia là “xét xứ lần đầu một vụ ẩn ở cấp xử thấp nhất” và no thường đi với cụm từ “phiên tòa sơ thâm”. Việc xét xử lần đâu này đông nghĩa với việc khi đương sự yêu câu khởi viện một vụ án, trước hết họ sẽ được trải qua giai đoạn sơ thâm nay.