Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước. Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các nghiên cứu trên thế giới Andiola và cộng sự (2018), “Sprandel, Inc.: Electronic Workpapers, Audit Documentation, and Closing Review Notes in the Audit of Accounts Receivable”. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và dữ liệu thứ cấp.
Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc soát xét tài liệu làm việc như một cơ chế kiểm soát chất lượng trong môi trường kiểm toán. Mục tiêu cuối cùng của quá trình xem xét giấy tờ làm việc là đảm bảo rằng tài liệu đầy đủ và các kết luận rút ra trong công việc kiểm toán sẽ hỗ trợ cho ý kiến kiểm toán tổng thể. Khi kiểm toán các khoản phải thu, cần kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) đồng thời cần sử dụng các kỹ năng tư duy phản biện và duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục kiểm toán, đánh giá bằng chứng kiểm toán và đưa ra quyết định. (2020) với nghiên cứu “Operational Audit of Accounts Receivable (Study at PT.
Bài viết áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính, sử dụng dữ liệu sơ cấp. Tác giả nêu ra các giai đoạn kiểm toán, sử dụng Bảng câu hỏi để đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống KSNB tại công ty khách hàng, trong đó tác giả nhấn mạnh đến sự yếu kém trong phân chia trách nhiệm và quyền hạn có thể gây chậm trễ hoặc sai sót đến việc ghi nhận các khoản phải thu. Nghiên cứu đã kết luận về sự cần thiết của hệ thống KSNB, KSNB kém có thể kéo theo ảnh hưởng đến một số hoạt động nhất định của công ty. Nghiên cứu của Lureau, S.
(2020) nhấn mạnh sự cần thiết trong việc tập trung vào cách chọn mẫu gửi thư xác nhận (TXN) khi kiểm toán các khoản NPTKH. Ngoài ra, KTV cần xem xét tính đầy đủ của khoản dự phòng phải thu khó đòi và cần trao đổi với ban quản lý nếu cần thiết; thực hiện các thủ tục thay thế khi không nhận được TXN hoặc có chênh lệch giá trị. Trường hợp nghiên cứu tại công ty Cardinal cho thấy việc điều chỉnh kiểm toán sẽ thay đổi tùy thuộc vào các thủ tục kiểm toán được thiết kế. Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của làm việc nhóm và sự hợp 5 tác giữa các thành viên trong nhóm kiểm toán.
Tuy nhiên, bài viết không đề cập đến thử nghiệm kiểm soát cũng như quy trình hoạt động của công ty khách hàng trong quy trình kiểm toán NPTKH. Các nghiên cứu trong nước Phạm Nguyễn Anh Thư và cộng sự (2012) với phương pháp nghiên cứu định tính đã đưa ra một chương trình kiểm toán chung cho chu trình bán hàng và nợ phải thu, đặc biệt là DN chủ yếu thực hiện bán chịu. Bài viết đề cập đến các bước trong nghiên cứu và đánh giá KSNB, sau đó là đánh giá mức rủi ro kiểm soát cho từng cơ sở dẫn liệu liên quan đến khoản NPTKH và nghiệp vụ bán hàng. Tác giả cũng trình bày tóm tắt những thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục NPTKH.
Trong đó, tác giả lưu ý về việc KTV có thể thu thập bằng chứng về các khoản cầm cố thế chấp của các khoản NPTKH thông qua Thư xác nhận (TXN). Ngoài ra, việc phân tích tài khoản lãi vay có thể giúp KTV phát hiện chi phí phải trả cho việc cầm cố, thế chấp. Nghiên cứu khẳng định “công tác kiểm tra gắn liền với quản lý, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra”. Trần Thùy Linh (2017) với nghiên cứu “Xác nhận công nợ phải thu trong hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính” đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của TXN công nợ trong hoạt động kiểm toán BCTC.
Theo đó, “NPTKH là tài sản của DN bị đối tác chiếm dụng, và có nhiều khả năng xảy ra sai sót trong việc ghi nhận và thu hồi công nợ” và TXN là bằng chứng kiểm toán dưới dạng văn bản được KTV thu thập trực tiếp từ các nguồn bên ngoài đơn vị được kiểm toán. Vì vậy, TXN công nợ là thủ tục bắt buộc để đạt được mục tiêu kiểm toán là xác nhận tính hiện hữu của khoản mục NPTKH. Tác giả cho rằng “việc gửi TXN dạng khẳng định sẽ hiệu quả hơn so với dạng phủ định. Tuy nhiên, vẫn có khả năng xảy ra gian lận, vì vậy KTV cần thu thập đầy đủ bằng chứng phù hợp và đánh giá độ tin cậy của các thông tin cần xác nhận”.
Trần Diệu Hương (2021) nghiên cứu tác động của CNTT đến quá trình kiểm toán. CNTT có thể nâng cao hệ thống KSNB hơn là KSNB truyền thống. Tuy nhiên nó cũng chứa đựng những rủi ro mà có thể ảnh hưởng đến thông tin kế toán, từ đó ảnh hưởng đến kết quả của quá trình kiểm toán. Bài viết đề cập đến việc KTV có trách 6 nhiệm thu thập bằng chứng về hệ thống KSNB của khách hàng, cụ thể là hiểu biết về kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng.
Kiểm soát chung là những kiểm soát thường áp dụng trên toàn cơ sở đơn vị, bao gồm các khía cạnh như: quản trị CNTT, tách bạch nhiệm vụ CNTT, bảo mật trực tuyến, sao lưu và kiểm tra dữ liệu thường xuyên. Kiểm soát ứng dụng bao gồm kiểm soát quá trình nhập liệu, kiểm soát quá trình xử lý và kiểm soát đầu ra cho từng nghiệp vụ. Các kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến thông tin kế toán, từ đó ảnh hưởng đến các khía cạnh của một cuộc kiểm toán bao gồm: ảnh hưởng đến mục tiêu kiểm toán, rủi ro kiểm soát, thử nghiệm cơ bản, xác lập mức trọng yếu và ảnh hưởng đến kết quả tổng thể của quá trình kiểm toán. Nghiên cứu đưa ra hàm ý KTV cần xác định loại kiểm soát (thủ công/ tự động) đối với từng mục tiêu kiểm toán để giảm rủi ro kiểm soát; sử dụng phương pháp phỏng vấn nhân viên CNTT và người sử dụng chính, kiểm tra tài liệu hệ thống và đưa ra bảng câu hỏi cho nhân viên CNTT để thu thập hiểu biết về các kiểm soát của khách hàng.
Thùy Lê (2022) nhấn mạnh “việc áp dụng CNTT trong quy trình nghiệp vụ làm thay đổi bản chất của bằng chứng, quy trình kiểm toán và môi trường KSNB”. Nguy cơ gian lận và những lỗ hổng bảo mật có thể phát sinh từ việc ứng dụng CNTT trong quản lý và vận hành hệ thống tài chính, tạo ra những thách thức mới về việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán. Do đó, KTV cần đánh giá khả năng hoạt động của KSNB, bao gồm kiểm tra tính toàn vẹn, độ tin cậy, và tính đầy đủ của dữ liệu trong môi trường số hóa. Tiêu chí quan trọng nhất là tính toàn vẹn của thông tin, KTV phải có được thông tin và hiểu được các hệ thống CNTT của thực thể được kiểm toán, xác định ứng dụng CNTT nào quan trọng trong phạm vi BCTC và quản lý DN.
Ở giai đoạn thực hiện, KTV tập trung vào kiểm soát quản trị và quản lý CNTT bao gồm tính bảo mật dữ liệu, tính hoạt động liên tục và kiểm soát thuê ngoài. Giai đoạn cuối cùng – báo cáo, KTV cần đưa ra kết luận về tính hiệu quả và độ tin cậy của các kiểm soát CNTT và giải thích từng điểm yếu trong kiểm soát liên quan đến rủi ro CNTT. Nguyễn Thị Thảo Dâng (2022) đã thực hiện nghiên cứu theo phương pháp định tính, cụ thể là phương pháp nghiên cứu tình huống – điển hình (Case Study) mô tả quy trình kiểm toán NPTKH mà Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính Toàn Cầu 7 áp dụng. Từ đó, tác giả đánh giá các ưu điểm và nhược điểm của quy trình này, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy trình.
Tác giả cũng so sánh quy trình kiểm toán NPTKH giữa công ty Kiểm toán Toàn Cầu với Chương trình kiểm toán mẫu VACPA. Xác định khoảng trống của vấn đề nghiên cứu Bảng 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước Tác giả PPNC Mục tiêu Kế thừa (Năm) nghiên cứu Andiola và PPNC định Việc soát xét tài liệu Tầm quan trọng trong việc cộng sự tính làm việc vô cùng quan đánh giá hiệu quả của (2018); trọng, ảnh hưởng đến KSNB khi thực hiện kiểm Winanto, A., chất lượng của cuộc toán; đề cao soát xét giấy tờ, & Aryani, F. kiểm toán; vai trò của các bằng chứng thu thập (2020); KSNB trong quy trình được; xem xét tính đầy đủ Lureau, S.
của khoản dự phòng cho các (2020) khoản phải thu khó đòi. Phạm PPNC định Đưa ra một chương Khi thực hiện thủ tục gửi Nguyễn Anh tính trình kiểm toán chung TXN, ngoài việc xác nhận Thư và cộng cho chu trình bán hàng số dư Nợ cuối kỳ, KTV sự (2012) và nợ phải thu, đặc cũng cần lưu ý các thông tin biệt là DN chủ yếu về các khoản cầm cố thế thực hiện bán chịu. chấp của khách hàng trong TXN. KTV có thể phân tích TK lãi vay để phát hiện chi phí phải trả cho việc cầm cố, thế chấp.
Trần Thùy PPNC định Vai trò quan trọng của Chú trọng thủ tục gửi TXN Linh (2017) tính, sử dụng TXN công nợ trong khi thực hiện kiểm toán dữ liệu thứ hoạt động kiểm toán NPTKH. KTV cần thu thập cấp BCTC. bằng chứng đầy đủ và thích hợp, đồng thời đánh giá sự 8 tin cậy của các thông tin cần xác nhận. Trần Diệu PPNC định Các đơn vị kiểm toán Đối với các DN có ứng Hương tính cần coi trọng việc lập dụng CNTT trong việc vận (2021) và kế hoạch và xác định hành, KTV cần phải thu Thùy Lê mục tiêu kiểm toán thập bằng chứng nhằm đánh (2022) CNTT.
Trong đó tiêu giá độ tin cậy của các kiểm chí quan trọng nhất soát CNTT vì các kiểm soát đối với thông tin là sẽ ảnh hưởng đến chất đảm bảo tính toàn vẹn, lượng thông tin kế toán, từ độ tin cậy, và tính đầy đó ảnh hưởng đến các khía đủ. KTV xem xét các cạnh của một cuộc kiểm vấn đề chung và cụ thể toán. KTV cần có kiến thức của hệ thống CNTT, từ và kỹ năng liên quan đến đó đánh giá rủi ro quản trị rủi ro nói chung và kiểm toán và xác định kiểm soát rủi ro trong môi các thủ tục kiểm toán trường CNTT; KTV cần xác cần thiết. định loại kiểm soát (thủ công/ tự động) đối với từng mục tiêu kiểm toán để giảm rủi ro kiểm soát.