CHƯƠNG I: CO SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỀM TOÁN CHI ĐẦU TƯ XDCB TRONG KIEM TOÁN NGÂN SÁCH DJA PHƯƠNG CAP HUYỆN 1. Vai trò của chỉ đầu tư xây dựng cơ bản trong mối quan hệ tổng thé với NSDP 1. Khải iệm, nội dung, đặc điểm chỉ đầu tư XDCB trong chi NSDP ‘Theo Điều 1 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002, Ngân sách nhà nước. là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhả nước có thấm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm đẻ bảo dim thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. nước "Ngân sách Nhà "Ngân sách ‘Trung Ương. Ngân sách Địa "Ngân sách phương. tính JIL Ngan sách phường, thị trấn Hình 1.1: Sơ dé hệ thong ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Trung Ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương, chưa cân đối được thu, chỉ ngân sách; có thé nói Ngân sách Trung Ương phản ánh nhiệm vụ thu, chỉ theo ngành, tập trung các nguồn lực cơ bản đẻ đảm bảo. thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu trên phạm vi cả nước. Ngan sách địa phương phản ánh nhiệm vụ thu, chỉ theo lãnh thổ, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện về hành chính, kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh, thành phó. ‘Ngan sách cấp huyện: Thông thường thì ở cap huyện nguồn thu con nghèo, số chi của ngân sách chủ yếu được bù dip bằng khoản trợ cấp của.
ngân sách cấp trên. Nhìn chung trong thời gian qua các khoản chỉ của ngân sách cấp huyện chủ yếu tập trung chỉ cho bộ máy, chưa có sự đầu tư lớn cho. phat triển kinh tế. Ngân sách xã, phường, thị trấn: Nhằm đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyển xã (phường, thị trấn) chủ động khai thác các thể mạnh đất dai lao động phát triển kinh tế, xã hội đặc biệt là xây dựng, phát triển nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội ở cơ sở, Chỉ NSĐP thể hiện các quan hệ tiễn tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSDP nhằm trang trải cho các chỉ phí bộ máy Nhà nước.
và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định. Chỉ NSĐP bao gồm chỉ thường xuyên và chỉ đầu tư phát triển Chỉ đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) của ngân sách nha nước. (NSĐP) là quá trình sử dụng một phin vốn tiền tệ đã được tập trung vào NSDP nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và mở rộng tài sản cố định, từng. bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vat chất kỹ thuật cho nén kinh tế.
Thực tiễn cho thấy chỉ đầu tư XDCB là khoản chỉ chủ yêu, chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ đầu tư phát triển của NSĐP và chủ yếu thực hiện đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ ting kinh tế xã hội, các công trình không có khả năng thu hồi |. Hàng năm, NSĐP dành một lượng vốn lớn thực hiện đầu tư xây dựng những công trình, dự án theo kế hoạch đầu tư được duyệt của Nhà nước, đó là các dự án thuộc kết cấu hạ ting kinh tế xã hội không có khả năng thu h |, các công trình, dự án thuộc doanh nghiệp Nhà nước. tu XDCB được cấp phát theo kế hoạch và ti độ thực hiện công việc XDCB của các dự án đầu tư. Đặc điểm chỉ đầu tư XDCB trong chỉ NSĐP Thứ nhắt, chỉ đầu tư XDCB là khoản chỉ lớn của NSĐP nhưng không mang tính én định.
Đầu tư XDCB là nhu cầu cần thiết đối với sự phát triển kinh t hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên quá trình này cần một lượng vốn lớn, nhưng lượng vốn này lại không én định hàng năm do nhu cầu và mức độ đầu tư XDCB ở mỗi năm là khác nhau. Nó được quyết định be cế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vào số dự án được thực hiện trong năm; Luật NSDP (có hiệu lực từ 1/1/2004) đánh du một bước n đáng kể trong việc tăng cường năng lực khai thác, huy động các nguồn lực tài chính qua NSDP. Với việc sửa đối phân cắp NSĐP, theo đó trao quyền tự chủ nhiều hơn cho chính quyển địa phương, bên cạnh đó việc quy định về ổn định ngân.
sich địa phương (Điều 4, khoản 2), theo đó tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. được ôn định từ 3 đến 5 năm, đã tạo điều kiện cho các địa phương yên tâm vả tích cực trong việc huy động các nguồn thu trên địa bàn; mặt khác quy định cho phép ngân sách cấp tỉnh được huy động các nguồn vốn tín dụng trong nước cho đầu tư với mức tối đa 30% vốn đầu tư XDCB trong nước hàng năm. của ngân sách cấp tỉnh (Khoản 3; Điều 8) đã mở đường cho các địa phương, trong việc huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để tham gia đầu tư cho các mục tiêu của ngân sách. Thứ hai, chỉ đầu tư XDCB gắn lién với đặc điểm của đầu tư XDCB.
Sản phẩm xây dựng được tạo ra trong thời gian dài, giá trị công trình lớn, người sử dụng không thé mua ngay công trình một lần ma phải mua từng phan. Trong những năm qua, nguồn vốn đầu tư từ NSĐP chiếm tỷ trọng đáng kể. trong tông vốn đầu tư toàn xã hội và liên tục tăng về số tuyệt đối. Theo số liệu thống kê giai đoạn 2008 - 2012, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt bình quân.
48,7% GDP, trong đó tỷ trọng đầu tư công chiếm khoảng 43.3% tông vốn đầu tư toàn xã hội lượng vốn đầu tư từ NSĐP hàng năm tăng mạnh về số lượng tuyệt đối. Tuy nhiên để một đồng vốn được phát huy đồi hồi phải sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích và được giám sát, kiểm soát trong suốt quá trình đầu tư. Để bảo đảm được việc này, việc nâng cao chất lượng kiểm. toán trong lĩnh vực kiểm toán chi đầu tư XDCB của KTNN nói chung và các.
KTNN khu vực nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng. Thứ ba, Chỉ NSDP trong đầu tư XDCB gắn với đặc điểm chỉ của từng NSDP và tủy vào từng địa phương. Chỉ đầu tư XDCB trong chỉ NSĐP còn được phân qua nhiều cấp quản lý, qua nhiều khâu, nhiều cơ quan nên việc xác định thất thoát là rat khó. Phân loại chỉ đầu tw XDCB trong chỉ NSĐP.
(C6 nhiều cách phân loại chỉ đầu tư xây dựng, ta có thé phân loại theo các cách như sau: a. Theo hình thái tái sản xuất tài sản cỗ định = Chỉ xây dựng mới: Bao gồm các khoản chi để xây dựng mới công trình, dy án làm tăng thêm tài sản cố định, tăng năng lực sản xuất của nén kinh tế quốc dan. Đây là khoản chỉ rất lớn. ~_ Chỉ cải tạo sửa chữa: là các khoản chỉ nhằm phục hồi hoặc nâng cao năng lực công trình hoặc dự án có sẵn + Theo cơ cầu von + Chỉ xây lắp: Là các khoản chi để xây dựng, lắp ghép các trúc và lắp đặt thiết bị theo thiết kế đã được phê duyệt.
+ Chỉ thiết bj: La các khoản chi cho mua sắm máy móc, thiết bị bao gom cả phí vận chuyển, bến bãi, bảo quản tại kho bãi, thuế và bảo hiểm thiết bị: + Chỉ kiến thiết cơ bản khác: Là các khoản chỉ nhằm đảm bảo điều kiện cho quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa công trình, dự án đi vào sử dụng, gồm các chỉ phí như chỉ chuẩn bị đầu tư, chỉ khảo sát thiết kế, chi quản lý cdự án, chi đền bù giải phóng mặt bằng ~ Theo giai đoạn xây dựng, + Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Bao gồm các khoản chỉ để xác định sự cần thiết phải đầu tư, quy mô của đầu tư, điều tra khảo sát, thăm dò lựa chọn vị p dự án, thẩm định và quyết định đầu tr; + Chỉ giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: Bao gồm các khoản chỉ của quá trình xây dựng từ khi khởi công đến khi hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dung, b. Theo nguồn vốn huy động. ~_ Chỉ đầu tư XDCB từ nguồn vốn trong nước; ~_ Chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn vay nợ, viện trợ của nước ngoài. Vị trí và vai trò của chỉ NSDP cho đầu te XDCB Lịch sử phát triển kinh tế xã hội cho thấy rằng, để nền kinh tế có thé phát triển dn định, bên vững thì cần thiết phải chỉ ngân sách cho đầu tư XDCB.
Nhà nước ‘tu vào các ngành then chốt, các công trình kinh tế mũi nhọn có tác dụng thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh dan, tạo ra các TSCD, tạo năng lực sản xuất mới cho nên kinh tế. ‘Chi cho đầu tư XDCB đã khắc phục được các khuyết tật của nền kinh thị trường, như đầu tư vào các công. không có khả năng thu hồi vốn: công trình giao thông, công trình công cộng, công trình văn hóa, giáo dục. góp phần tạo nên cơ sở hạ ting đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế.
Bên cạnh đó chi NSĐP cho đầu tr XDCB còn có tác dung dây truyền, thúc day sự phát trién của nhiễu ngành, nhiễu lĩnh vực kinh tế. Nguyên tắc tỗ chức và quản lý đầu tr XDCB “Trong công tác tổ chức quản lý xây dựng cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: “Một là: Sự thống nhất giữa chính trị, kinh tế, và kết hop hải hỏa với xã hội. pháp lý đầu tư theo địa phương, theo vùng lãnh thổ, theo thành phần kinh tế nhằm mục dich thực hiện các mục tiêu chiến lược phát trién kinh tế trong từng thời kỳ, Để thực hiện nguyên tắc này Nhà nước cần xác định và xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng hệ thống chính sách dé hướng dẫn thực hiện các mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ, phát huy tính chủ động của từng bộ ngành, địa phương trong quản lý điều hành ngân sách cho phủ hợp với mục tiêu chỉ phát triển; Hai là, nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này đòi hỏi công tác quản lý đầu tư phải theo sự lãnh đạo thống nhất, đồng thời phát huy được tính chủ động sáng tạo của các đơn vị thực hiện đầu tư.
Cần xây dựng và thực.