Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị khoản phải thu tiền nước. Chương 2: Thực trạng quản trị khoản phải thu tiền nước tại Công ty Cổ phần Cấp nước Thừa Thiên Huế. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị khoản phải thu tiền nước tại Công ty Cổ phần Cấp nước Thừa Thiên Huế. 3 PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU TIỀN NƢỚC 1.
Cơ sở lý luận về khoản phải thu 1. Khái niệm khoản phải thu Theo Ngô Thế Chi (2013) thì các khoản phải thu là “Khoản nợ của các cá nhân, các tổ chức đơn vị bên trong và bên ngoài DN về số tiền mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và các khoản dịch vụ khác chưa thanh toán cho DN.” Khoản phải thu là “Một bộ phận quan trọng trong tài sản của DN, phát sinh trong quá trình hoạt động của DN khi thực hiện việc cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cũng như một số trường hợp khác khiến cho một bộ phận tài sản của DN bị chiếm dụng tạm thời.” (Võ Văn Nhị, 2009) Theo Stockbiz Learning Center “Các khoản phải thu là một loại tài sản của Công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho Công ty. Các khoản phải thu được kế toán của Công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ Công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán. Phân loại các khoản phải thu Theo Thông tư 200/2014/TT – BTC việc phân loại các khoản phải thu là phải thu KH, phải thu nội bộ, phải thu khác được thực hiện theo nguyên tắc: a) Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán, như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính) giữa DN với người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa Công ty mẹ và Công ty con, liên doanh, liên kết).
Khoản phải thu này gồm cả các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác. 4 b) Phải thu nội bộ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc. c) Phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính chất thương mại, không liên quan đến giao dịch mua – bán như: Các khoản phải thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, như: khoản phải thu về lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia. Các khoản phải thu không mang tính thương mại như cho mượn tài sản, phải thu về tiền phạt, bồi thường, tài sản thiếu chờ xử lý… 1.
Bản chất của khoản phải thu khách hàng Khoản phải thu KH là khoản phải thu từ hoạt động kinh doanh bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của DN cho KH mà KH chưa thanh toán cho DN. Trong điều kiện kinh doanh cạnh tranh như hiện nay thì hình thức “bán hàng trước trả tiền sau” khá phổ biến. Thời hạn, quy mô các khoản phải thu KH của mỗi DN là khác nhau tùy thuộc vào chính sách tín dụng mà DN áp dụng với KH của mình. Khoản phải thu KH là một loại tài sản khá nhạy cảm với những gian lận và dễ xảy ra sai sót.
Việc lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi thường dựa vào ước tính mang tính chủ quan của các nhà quản lý nên có nhiều khả năng xảy ra sai sót và khó kiểm tra. Bản chất của các khoản dự phòng khoản phải thu KH là làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận trong kì báo cáo, các DN thường có xu hướng khai tăng các khoản phải thu. Các DN cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định hiện hành về trích lập dự phòng khoản phải thu để xác định được chính xác giá trị thực của các khoản phải thu. Lợi ích và rủi ro của việc bán chịu Bán chịu là là xu thế tất yếu của thị trường hiện này.
Ngoài những lợi ích đạt được thì cũng có những rủi ro tiềm ẩn đối với DN Lợi ích: - Bán chịu mang lại lợi ích cho cả DN và KH. Người bán thu hút được KH về mình và mở rộng nhiều quan hệ với KH nên lượng KH sẽ tăng lên, làm tăng doanh thu và giảm tồn kho cho DN. Người mua được tạo điều kiện tốt nhất để mua hàng trong những trường hợp KH gặp khó khăn về tài chính nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa dịch vụ. 5 - Một DN với những chính sách về thanh toán nợ đối với KH hấp dẫn thì sẽ dễ dàng thu hút KH, luôn được KH nhắc đến đầu tiên khi lựa chọn nhà cung cấp.
từ đó DN sẽ tạo được uy tín và ổn định cho DN, tạo dựng hình ảnh đẹp trong lòng KH và trên thị trường. Rủi ro Bên cạnh những lợi ích mang lại thì không thể tránh khỏi những rủi ro khi việc bán chịu và các khoản nợ ngoài vòng kiểm soát của DN - Gánh nặng nợ khó đòi: khi đã chấp nhận bán chịu cho KH thì chi phí bán hàng, chi phí thu nợ và khả năng mất mát ngày càng tăng lên. Không xác định được rõ ràng về đối tượng bán chịu sẽ khiến DN đối mặt với gánh nặng nợ khó đòi chồng chất. Nếu việc quản lý khoản phải thu vượt ngoài tầm kiểm soát của DN thì không những không mang lại lợi ích mà còn gây ra tác hại nghiêm trọng.
- Nguy cơ phá sản cao: bán chịu sẽ trở thành “con dao hai lưỡi” khi DN mất khả năng kiểm soát các khoản nợ, DN dễ lâm vào khủng hoảng do mất lợi thế tài chính, thậm chí có thể dẫn tới phá sản. Không đủ vốn để đầu tư mở rộng SXKD khiến cho DN không phát triển theo kịp thị trường và bị đẩy lùi về phía sau so với đối thủ cạnh tranh. Các yếu tố quyết định đến mức “các khoản phải thu khách hàng” Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến mức độ của khoản phải thu KH là: Khối lượng hàng bán ra: Trong trường hợp muốn khuyến khích người mua, DN thường áp dụng phương thức bán chịu (giao hàng trước, trả tiền sau) đối với KH. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của KH (chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…).
Đổi lại DN cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ. Doanh thu thay đổi theo mùa Đối với những DN cung cấp hàng hóa, dịch vụ có doanh thu thay đổi theo mùa thì mức độ của khoản phải thu KH chịu ảnh hưởng của nhân tố này nhiều hơn. Trong một kỳ có doanh thu cao thì chứng tỏ lượng hàng hóa bán ra nhiều do đó khoản phải thu KH cũng cao hơn. 6 Chính sách tín dụng của mỗi DN: Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mức độ khoản phải thu của KH.
Chính sách tín dụng được thể hiện thông qua thời hạn bán chịu và chiết khấu. Thời hạn bán chịu là độ dài thời gian mà khoản tín dụng được phép kéo dài. Thông thường với thời hạn càng dài thì KH có xu hướng nợ lớn và khoản phải thu KH tăng. Chiết khấu thì ngược lại, nó khuyến khích KH thanh toán sớm và làm cho mức độ các khoản phải thu KH giảm xuống.
Chính sách thu tiền: Mức độ của khoản phải thu KH sẽ giảm xuống khi DN áp dụng chính sách thu tiền hợp lý để thu hồi nợ. Nếu DN có chính sách thu tiền tốt thì sẽ tận dụng được những lợi ích mà việc bán chịu mang lại. Các chỉ tiêu phân tích khoản phải thu khách hàng Khoản phải thu KH là một phần quan trọng trong tổng tài sản của DN, vì vậy cần phải được quản lý chặt chẽ. Để đánh giá được tình hình khoản phải thu của một DN như thế nào thì người ta thường dựa vào các chỉ tiêu sau: a) Vòng quay khoản phải thu Vòng quay khoản Doanh thu thuần = (vòng) phải thu Bình quân giá trị khoản phải thu Vòng quay khoản phải thu là một trong những chỉ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của DN trong công tác quản trị khoản phải thu.
Nó cho biết các khoản phải thu phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó. Vòng quay khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Vòng quay khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của DN càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản phải thu sang tiền mặt cao. Ngược lại, nếu vòng quay khoản phải thu càng thấp thì số tiền của DN bị chiếm dụng càng nhiều.
b) Kỳ thu tiền bình quân của các khoản bán chịu Từ chỉ tiêu vòng quay khoản phải thu ta tính được chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân của của các khoản bán chịu theo công thức: 7 Kỳ thu tiền bình Số ngày trong năm = (ngày) quân Vòng quay khoản phải thu Tỷ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lý khoản phải thu. Nó cho biết bình quân mất bao nhiêu ngày để Công ty thu hồi được khoản phải thu. Ngược lại với chỉ tiêu vòng quay khoản phải thu, chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi nợ phải thu của DN càng nhanh. c) Tỷ lệ khoản phải thu trên doanh thu Tỷ lệ khoản phải Khoản phải thu trong kỳ = (%) thu trên doanh thu Doanh thu tuần trong kỳ Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá xu hướng hiệu quả các khoản phải thu.
Tỷ lệ này càng cao, công ty càng bị chiếm dụng vốn nhiều. Quản trị khoản phải thu khách hàng 1. Khái niệm quản trị khoản phải thu khách hàng Quyết định quản trị khoản phải thu gắn với việc đánh đổi giữa chi phí liên quan đến khoản phải thu và doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng hóa. Theo bài “Quản trị khoản phải thu tại các DN ngành xây dựng Việt Nam”, Thư điện tử Việt Nam (2009), quản trị khoản phải thu đòi hỏi trả lời năm câu hỏi sau: - DN đề nghị bán hàng hay dịch vụ của mình với điều kiện gì? Dành cho KH thời gian bao lâu để thanh toán tiền mua hàng?