CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG Ô TÔ 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý nhà nước trong giao thông vận tải nói chung và vận tải hàng hóa bằng ô tô nói riêng trên thế giới đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau. Tại các nước có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, các nghiên cứu QLNN về vận tải hàng hóa bằng ô tô tập trung chủ yếu vào các chính sách mềm nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh năng động, hiệu quả hơn hay đánh giá sự tác động đến các khía cạnh về an ninh năng lượng hay môi trường, với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: - Tác giả Paweł Więcek, Augustyn Lorenc (2014) nghiên cứu các ảnh hưởng của xã hội và kinh tế đến vận tải hàng hóa bằng ô tô, từ đó đề xuất ý tưởng về một cách tiếp cận bền vững trên toàn hệ thống cho sự quản lý vận chuyển hàng hóa trong đô thị gồm các giải pháp sáng tạo, bảo vệ môi trường được thực hiện ở các thành phố ở châu Âu [62]. Mặt khác, nghiên cứu cũng khuyến nghị các giải pháp ứng phó với những vấn đề gia tăng tình trạng tắc nghẽn giao thông, sự di chuyển của dòng hàng hóa, sự kém hiệu quả của các quá trình phân phối hàng hóa, sự thiếu hụt về không gian và những phiền toái về xã hội và môi trường trong nhiều thành phố.
Mỗi giải pháp đều có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau nhằm đổi mới mang tính hiện đại kết cấu hạ tầng và diện mạo của thành phố. Nghiên cứu cũng định hướng việc sử dụng các công nghệ hiện đại trong lĩnh vực viễn thông, đổi mới trong cách xử lý dữ liệu và hợp tác với nhiều tổ chức, các nhà phát triển và người sử dụng hệ thống. Do đó, những nghiên cứu và cải tiến trong hệ thống vận tải ở các đô thị trong tương lai cần được xem xét trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan gồm doanh nghiệp, cơ quan chính quyền và người dân địa phương. - Tác giả Phết Xạ Khon Văn Na Lạt (2013) với luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Xa Văn Na Khệt Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” tại Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh [26].
7 Những đóng góp quan trọng của nghiên cứu là làm rõ các vấn đề về quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải ở cấp tỉnh, trình bày thực trạng và phương hướng giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Xa Văn Na Khệt - Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Đây cũng là một trong những vấn đề cần giải quyết đối với việc tổ chức quản lý hoạt động vận tải tại các tỉnh thành ở Việt Nam. Trong đó tác giả đã tổng quan các lý thuyết phát triển và đi sâu vào vai trò QLNN trong quá trình phát triển. Tác giả đã xác định 10 vai trò của QLNN trong quá trình phát triển bao gồm: Bảo đảm hàng hóa công cộng, cơ sở hạ tầng; Tìm các giải pháp trong việc tạo ra các quyền và tài sản; Cân đối ngân sách của chính phủ; Tổ chức, phối hợp, điều hòa các các hoạt động trong việc thực hiện các chính sách, chương trình của chính phủ; Bảo đảm sự ổn định trong các dự đoán của mình; Sàng lọc quyết định, khuyến nghị các luật lệ cần được thực hiện; Tạo ra, tăng cường và hoàn thiện thị trường; Điều chỉnh và phân bố quyền và tài sản tạo sự công bằng xã hội; Xây dựng và và tổ chức thực hiện các kế hoạch phát triển; Lựa chọn quy mô và các bước thực hiện cải cách.
- Adrienne Curry (1999), “Sáng tạo quản lý dịch vụ công” [48] đã đề cập đến việc quản lý và cung cấp cơ sở hạ tầng giao thông; nghiên cứu chỉ dừng lại QLNN đối với các dịch vụ công trong đó có cơ sở hạ tầng GTVT, chưa làm rõ QLNN đối với lĩnh vực vận tải đường bộ. - Hamid Saeedia, Bart Wiegmansa, Behzad Behdanib, Rob Zuidwijkc (2017), “Phân tích cạnh tranh trong mạng lưới vận tải hàng hóa đa phương thức: Ý nghĩa thị trường của các chiến lược kinh doanh bền vững” [51]. Bài viết đã đề cập đến môi trường cạnh tranh trong vận tải đa phương thức trong xu hướng hội nhập quốc tế, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh từ đó đề xuất các chiến lược phù hợp với từng cấu trúc thị trường. Greenb, “Chính sách môi trường, ra quyết định, và ảnh hưởng trong ngành vận tải đường bộ của Mỹ” [55].
Bài viết về các 8 công nghệ và chính sách mới đã nâng cao hiệu quả của các loại xe tải hoạt động tại Hoa Kỳ. Những cải tiến này làm giảm chi phí vận chuyển cho các doanh nghiệp vận tải và đặt câu hỏi về phản ứng ở cấp độ công ty với những chi phí thấp hơn. Dựa trên các kết quả phỏng vấn với 8 công ty vận tải đường bộ, bài báo này thảo luận về các yếu tố chính tác động đến quá trình ra quyết định ở cấp độ công ty trong các chế độ chính sách tiết kiệm năng lượng. - Nghiên cứu của tác giả Chaiyot Peetijade and Athikom Bangviwat (2012) phân tích đặc trưng và ảnh hưởng xe tải chạy rỗng di chuyển trong khu vực thủ đô Bangkok (Thái Lan) làm gia tăng chi phí vận tải và sử dụng không hiệu quả nhiên liệu [53].
Theo nghiên cứu, có hơn 85,75% số xe tải chạy trong một tuần có một chiều đi là không chở hàng đã làm tăng lượng tiêu thụ nhiên liệu gây lãng phí đến 37,42%. Tác giả đề xuất phương pháp kết hợp trong quá trình vận chuyển giúp giảm khoảng 14,59% độ dài quãng đường và giảm chi phí. Trong đó, mô hình logistics kết hợp được sử dụng như là giải pháp cho tương lai nhằm làm giảm lượng tiêu thụ năng lượng trong lĩnh vực vận tải trên cả nước. Về trách nhiệm của các bên, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quản lý của các nhà sản xuất trong việc giảm lượng xe “rỗng” để hạ thấp chi phí gây nên bởi tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường và tai nạn giao thông.
- Cũng tập trung vào các giải pháp từ phía doanh nghiệp vận tải, M. Việc ước tính chi phí vận tải là một vấn đề phức tạp do sự khác nhau của giá đầu vào, sự khác nhau về yêu cầu dịch vụ, sử dụng phương tiện như thế nào giữa các doanh nghiệp. Ảnh hưởng lớn nhất đến những chi phí này là do việc lãng phí thời gian, bao gồm: thời gian chờ đợi, thời gian đi từ nhà ga đến địa điểm bốc hàng và thời gian cần thiết để bốc và dỡ hàng. Các thông số vận hành đội xe có ảnh hưởng mang tính quyết định đến chi phí vận chuyển hàng hóa.
Những thông số này là các hệ số khác nhau đại diện cho mức độ sử dụng của xe tải, thời gian, công suất xe, tuyến đường xe đi, tốc độ trung bình và quãng 9 đường mà xe đã bốc hàng đi được. Mô hình này cho phép thay đổi các thông số đầu vào và phản ánh ảnh hưởng của các quyết định quản lý khác nhau mà có tác động đến chi phí vận chuyển. - Nhằm cải thiện quản lý khả năng tiếp cận vận tải đa phương thức, nhóm tác giả Stefan Jacobsson, Per Olof Arnäs và cộng sự đã nghiên cứu xác định các thuộc tính thông tin hiện có và bắt buộc cần được trao đổi giữa các trung tâm quản lý và các nhà vận chuyển, từ đó đề xuất mô hình ứng dụng công nghệ thông tin để thiết lập kênh kết nối giữa hệ thống quản lý vận tải, hệ thống vận tải đa phương thức và hệ thống thông tin [50]. Tác giả JieLiu (2011) nghiên cứu đề xuất chính sách hợp tác mới nhằm tăng cường quan hệ phối hợp giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng trong một chuỗi cung ứng.
Tác giả cho rằng quản lý vận tải trong quản trị chuỗi cung ứng Logistics vận chuyển là một bước không thể thiếu được kết nối sản xuất, lưu trữ và khách hàng cuối cùng, tuy nhiên có rất ít sự hợp tác trong chuỗi cung ứng để tối ưu hóa việc vận chuyển hậu cần từ cấp độ chiến lược. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đã đề ra giải pháp nhằm mục tiêu chi phí thấp, độ chính xác cao về thời gian, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng hay giảm thiểu tai nạn, hư hỏng hàng hóa. Các giải pháp được đề cập trong nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho các nhà quản trị doanh nghiệp vận tải phát triển công cụ quản lý nâng cao hiệu quả kinh doanh và chất lượng dịch vụ vận tải. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài, nhận định của tác giả luận án được nêu ra trên các khía cạnh sau: - Đối với các nước có nền công nghiệp tiên tiến, các nghiên cứu đặt ra yêu cầu tập trung vào các mục tiêu nâng cao tính kết nối giữa hệ thống QLNN và quản lý doanh nghiệp vận tải bằng các giải pháp công nghệ nhằm phát triển vận tải đa phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động logistics, chuỗi cung ứng; tối ưu hóa chi phí vận tải cho doanh nghiệp, giảm thiểu ùn tắc, tai nạn giao thông và bảo vệ môi 10 trường định hướng phát triển bền vững hệ thống giao thông vận tải.
Một số nghiên cứu cụ thể về chính sách phát triển công nghệ sạch tiết kiệm năng lượng, thực thi chức năng quản lý và điều tiết thị trường của QLNN, hoặc cải cách dịch vụ công nhằm tăng cường vai trò QLNN về hoạt động vận tải trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. - Tại các nước đang phát triển, các nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải trên cơ sở kết hợp đồng bộ giữa quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp trong việc điều phối hoạt động vận tải (Thái Lan), hoặc đề ra giải pháp định hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giao thông vận tải ở cấp tỉnh (Lào). Với các điều kiện cơ sở vật chất, công nghệ và trình độ quản lý khác nhau, các nghiên cứu chuyên sâu trên một số khía cạnh về QLNN và quản lý doanh nghiệp nhằm nâng cao hoạt động QLNN về giao thông vận tải nói chung và VTHH bằng ô tô nói riêng.