Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Công Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Công Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng Vì thời gian thực tập có hạn, cùng với sự hiểu biết và trình độ nghiệp vụ còn hạn chế bài viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong các thầy cô chỉ bảo, để em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khoa học này. Em xin chân thành cám ơn! SV – Nguyễn Thanh Nghị - Lớp QT1203K Đề Tài Khoa Học Đại Học Dân Lập Hải Phòng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất Sản xuất của cái vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài ngƣời, đây chính là điều kiện quyết định của sự tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội.
Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp thực chất là việc sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của thị trƣờng nhằm mục đích kiếm lời. Để đạt đƣợc mục đích này doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định. Do vậy, để tồn tại và phát triển kinh doanh mang lại lợi nhuận thì buộc các doanh nghiệp phải giảm đến mức tối thiểu các chi phí của mình bỏ ra trong quá trình sản xuất. Chi phí là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền với sản xuất và lƣu thông hàng hóa.
Đó là những hao phí lao động xã hội đƣợc biểu hiện bằng tiền trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp là tát cả các chi phí phát sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình hình thành, tồn tại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo ra sản phẩm đến khi tiêu thụ sản phẩm. Chi phí sản xuất kinh doanh nói chung là toàn bộ các chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác đƣợc biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất không những bao gồm yếu tố lao động yếu tố lao động liên quan đến sử dụng lao động (tiền lƣơng, tiền công), lao động vật hóa (khấu hao TSCĐ, chi phí về nguyên nhiên vật liệu…) mà còn bao gồm một số khoản thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra ( nhƣ các khoản trích theo lƣơng: BHXH, BHYT, KPCĐ; thuế GTGT không đƣợc khấu trừ).
SV – Nguyễn Thanh Nghị - Lớp QT1203K Đề Tài Khoa Học Đại Học Dân Lập Hải Phòng Các chi phí của doanh nghiệp luôn đƣợc tính toán đo lƣờng bằng tiền và gắng với một thời gian xác định là: tháng, quý, năm. Độ lớn của chi phí là một đại lƣợng xác định và phụ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu: một là khối lƣợng lao dộng và tƣ liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất trong một thời kỳ nhất định, hai là giá cả các tƣ liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm * Bản chất của giá thành sản phẩm Trong quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất mới chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lƣợng sản xuất kinh doanh, chi phí chi ra phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai, hiệu quả do nó mang lại, từ quan hệ đó hình thành lên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khac tính cho một khối lƣợng hoặc một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành. Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống và khác nhau. Chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm nhƣng không phải toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều đƣợc tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ. Giá thành sản phẩm biểu hiện lƣợng chi phí sản xuất để hoàn thành việc sản xuất một đơn vị hay một khối lƣợng sản phẩm nhất định.
Nhƣ vậy, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tƣ lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng nhƣ tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, chất lƣợng sản xuất, hại thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để đính giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất. * Chức năng của giá thành sản phẩm SV – Nguyễn Thanh Nghị - Lớp QT1203K Đề Tài Khoa Học Đại Học Dân Lập Hải Phòng - Chức năng thước đo bù đắp chi phí: Giá thành biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần đƣợc bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất.
Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp, bởi hiệu quả kinh tế đƣợc biểu hiện ra trƣớc hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không. - Chức năng lập giá: để thực hiện chức năng bù đắp chi phí thì khi xây dựng giá phải căn cứ vào giá thành. Tuy nhiên, giá thành cá biệt của từng doanh nghiệp không phải là cơ sở để xây dựng giá cả mà là giá thành bình quân của cả ngành hoặc khu vực đƣợc sản xuất ra trong điều kiện trung bình của ngành hoặc khu vực đó. Nhƣng việc xác định giá thành cá biệt ở từng doanh nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng cho công tác xác định giá thành bình quân.
Trên thị trƣờng, các hàng hóa đều phải bán theo một giá trị thống nhất đó là giá cả thị trƣờng. - Chức năng đòn bảy kinh tế: lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá thành. Hạ thấp giá thành bằng cách cải tiến công nghệ sản xuất, Tổ chức lao động khoa học… là biện pháp cơ bản để tăng cƣờng lợi nhuận, tạo tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất bao gồm các khoản chi có nội dung, công dụng và mục đích sử dụng khác nhau.
Vì vậy để quản lý chi phí đƣợc chặt chẽ, theo dõi và hạch toán chi phí một cách có hệ thống, nâng cao chất lƣợng công tác kiểm tra và phân tích kinh tế trong các doanh nghiệp, cần phải phân loại chi phí theo các tiêu thực thích hợp. Tùy theo việc xem xét chi phí ở các góc độ khác nhau và mục đích quản lý chi phí mà chi phí sản xuất đƣợc phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí. Phân loại theo cách này chi phí đƣợc phân thành 5 yếu tố: - Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tƣợng lao động là nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản.
SV – Nguyễn Thanh Nghị - Lớp QT1203K Đề Tài Khoa Học Đại Học Dân Lập Hải Phòng - Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ các chi phí phải trả cho ngƣời lao động (thƣờng xuyên hay tạm thời) về tiền lƣơng, tiền công, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lƣơng trong kì báo cáo, các khoản trích theo lƣơng (KPCĐ, BHYT, BHXH). - Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số phải trích khấu hao trong kỳ đối với tất cả các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp. - Chi phí bằng tiền khác: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh chƣa đƣợc phản ánh ở các chỉ tiêu trên đã chi bằng tiền trong kì báo cáo nhƣ: tiếp khách, hội hợp, thuê quảng cáo… Cách phân loại này có tác dụng quan trọng đối với việc quản lý chi phí của lĩnh vực sản xuất bởi nó cho phép doanh nghiệp hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kì sản xuất kinh doanh, để lập thuyết minh báo cáo tài chính nhằm phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất đồng thời lập dự toán chi phí cho kì sau.
Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí. Theo cách phân loại này toàn bộc hi phí sản xuất đƣợc chia thành ba khoản mục sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản phải trả cho ngƣời lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, dịch vụ nhƣ: lƣơng, các khoản phụ cấp lƣơng, tiền ăn giữa ca và các khoản trích theo lƣơng (KPCĐ, BHXH, BHYT). - Chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí phát sinh tại bộ phần sản xuất (phân xƣởng, đội, trại sản xuất…) ngoài hai khoản mục trên.
Chi phí sản xuất chung bao gồm: SV – Nguyễn Thanh Nghị - Lớp QT1203K Đề Tài Khoa Học Đại Học Dân Lập Hải Phòng + Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm các khoản tiền lƣơng, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lƣơng, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lí phân xƣởng, đội, bộ phận sản xuất. + Chi phí vật liệu: gồm những chi phí vật liệu dùng chung cho phân xƣởng: vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dƣỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng phân xƣởng và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xƣởng. + Chi phí dụng cụ sản xuất: gồm những chi phí công cụ dụng cụ xuất dùng cho hoạt động quản lí của phân xƣởng nhƣ: khuôn mẫu, dụng cụ cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động, dụng cụ xây lắp.