Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các mối quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Đối với Việt Nam, việc chủ động tham gia phân công lao động quốc tế nhằm khai thác các nguồn lực sẵn có và phát huy lợi thế so sánh là một định hướng quan trọng, phù hợp với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thông thường, gia công quốc tế được xác định là phương thức hữu hiệu giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với kỹ thuật, máy móc hiện đại và từng bước mở rộng thị phần ra thị trường thế giới.

Trong cơ cấu các ngành kinh tế đối ngoại, ngành may mặc đóng vai trò thiết yếu đối với tổng sản phẩm quốc nội. Dù trải qua nhiều biến động do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát gia tăng và cạnh tranh quốc tế gay gắt, ngành may mặc xuất khẩu Việt Nam vẫn nỗ lực duy trì thị trường và tìm kiếm đối tác ổn định. Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu thực tiễn hoạt động tại Công ty TNHH Doosol Việt Nam nhằm làm rõ thực trạng vận hành và đề xuất giải pháp phát triển hoạt động gia công may mặc xuất khẩu.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty TNHH Doosol Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2009.
  2. Đưa ra một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động gia công may mặc xuất khẩu tại Công ty TNHH Doosol Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động gia công may mặc xuất khẩu của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Nội bộ Công ty TNHH Doosol Việt Nam, giới hạn trong các phòng ban chức năng và các phân xưởng sản xuất trực thuộc.
  • Phạm vi thời gian và dữ liệu: Các số liệu thống kê, báo cáo tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2005 - 2009 do các phòng ban chức năng của công ty cung cấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về gia công quốc tế, xác định đây là một hình thức kinh doanh thương mại mà bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến thành thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (phí gia công). Bản chất của hoạt động này là hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ thông qua giá trị kết tinh trong hàng hóa. Tác giả tổng hợp các cách phân loại hình thức gia công xuất khẩu theo các tiêu chí:

  • Theo quyền sở hữu nguyên liệu: Phương thức nhận nguyên vật liệu - giao thành phẩm (gia công đơn thuần); phương thức mua đứt, bán đoạn (FOB); phương thức kết hợp.
  • Theo cách xác định giá cả gia công: Hợp đồng thực thi nhanh; hợp đồng khoán.
  • Theo số bên tham gia quan hệ gia công: Gia công hai bên; gia công nhiều bên (gia công chuyển tiếp).

Khung lý thuyết cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động gia công xuất khẩu, bao gồm nhóm nhân tố khách quan (xu hướng toàn cầu hóa, hệ thống pháp luật thương mại quốc tế và quốc gia, nhân tố công nghệ, giá cả, dịch vụ hỗ trợ) và nhóm nhân tố chủ quan (chủ trương chính sách của Nhà nước, nhân tố con người, năng lực sản xuất kinh doanh, hoạt động marketing của doanh nghiệp). Đồng thời, văn bản hệ thống hóa nội dung hợp đồng gia công quốc tế với các điều khoản thương mại bắt buộc: tên hàng, số lượng, phẩm chất, quy cách, nguyên phụ liệu, giá gia công, phương thức thanh toán bằng thư tín dụng (L/C), kiểm tra hàng hóa, giao nhận, phạt hợp đồng và cơ quan trọng tài giải quyết tranh chấp.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích số liệu thực tế, so sánh đối chiếu số liệu qua các năm để đánh giá biến động và rút ra kết luận thực tiễn. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo xuất nhập khẩu của Phòng Kế hoạch - Kinh doanh, Phòng Xuất nhập khẩu, và Phòng Hành chính - Nhân sự Công ty TNHH Doosol Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về gia công xuất khẩu

Chương này trình bày hệ thống lý luận chung về hoạt động gia công thương mại quốc tế. Tác giả phân tích vai trò của gia công xuất khẩu đối với cả hai phía: đối với nước đặt gia công, hoạt động này giúp khai thác nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực giá rẻ và mở rộng cơ hội chuyển giao công nghệ để tìm kiếm lợi nhuận; đối với nước nhận gia công, đây là cơ hội tham gia vào chuỗi phân công lao động quốc tế, khai thác lợi thế so sánh, tích lũy vốn và nâng cao trình độ công nghệ, quản lý.

Tác giả phân tích chi tiết quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu qua các bước tác nghiệp: xin giấy phép nhập khẩu; mở và kiểm tra L/C; chuẩn bị và tổ chức gia công sản phẩm; thuê phương tiện vận tải; làm thủ tục khai báo hải quan; giao hàng lên tàu và hoàn tất thủ tục thanh toán hoặc giải quyết khiếu nại phát sinh. Về thị trường dệt may, văn bản nêu rõ đặc điểm thị trường nội địa và hai thị trường quốc tế trọng điểm là EU (khu vực có quy mô nhập khẩu may mặc trên 80 tỷ USD mỗi năm) và Châu Á (nơi các đối tác như Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore vừa đóng vai trò bên đặt gia công trực tiếp, vừa là trung gian tái xuất hàng may mặc sang các nước thứ ba).

Chương II: Thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc tại công ty TNHH Doosol Việt Nam

Chương II tập trung khảo sát hoạt động thực tế tại Công ty TNHH Doosol Việt Nam. Công ty được thành lập ngày 15/8/2000 với 100% vốn đầu tư từ Hàn Quốc, tiền thân là Công ty TNHH may mặc Liên Phương, có trụ sở tại số 160 Đại lộ 3, Phường Phước Bình, Quận 9, TP. Hồ Chí Minh. Doanh nghiệp mua lại nhà xưởng, máy móc và tiếp nhận đội ngũ công nhân lành nghề sẵn có để vận hành sản xuất. Trong giai đoạn 2000 - 2005, công ty đầu tư 12,95 tỷ đồng cho công tác đào tạo nhân sự và 23,98 tỷ đồng cho mua sắm trang thiết bị; đến năm 2007, công ty hoàn thành nâng cấp mở rộng thêm 2 phân xưởng sản xuất mới.

Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty gồm: Ban Giám đốc (Tổng Giám đốc trực tiếp phụ trách tổ chức cán bộ, tài chính; Phó Giám đốc sản xuất phụ trách tiến độ và cung ứng); 4 phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức - Hành chính (14 người), Phòng Tài chính - Kế toán (6 người), Phòng Kế hoạch - Kinh doanh (18 người), Phòng Kỹ thuật - KCS (7 người); và 3 phân xưởng may trực tiếp: Phân xưởng I (187 người), Phân xưởng II (260 người), Phân xưởng III (120 người).

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Kim ngạch nhập khẩu trực tiếp 1.000 USD 14.643 - - - -
Tổng số nộp ngân sách Triệu VNĐ 616 722 1.712 720 440
Thuế VAT Triệu VNĐ 165 162 1.045 106 120
Thu trên vốn Triệu VNĐ 258 280 194 200 160
Thuế lợi tức Triệu VNĐ 193 280 473 414 160
Thu nhập bình quân 1.000 VNĐ 728 790 836 913 930

Thực trạng gia công tại Doosol Việt Nam thể hiện qua các khía cạnh:

  • Giá trị gia công xuất khẩu: Kim ngạch duy trì ở mức trên dưới 4 triệu USD mỗi năm (năm 2005 đạt mức thấp nhất do suy thoái kinh tế; năm 2007 đạt giá trị cao nhất; năm 2008 sụt giảm còn 3.923.000 USD; năm 2009 phục hồi đạt 4.976.000 USD).
  • Mặt hàng gia công: Áo Jacket là mặt hàng sản xuất chủ lực (năm 2005 sản xuất 805.632 chiếc, đạt giá trị 632.979 USD; các năm 2006 - 2008 đạt giá trị kim ngạch cao; năm 2009 suy giảm về lượng và trị giá). Mặt hàng có giá trị thứ hai là áo váy (kim ngạch ổn định khoảng 300.000 USD/năm, thị trường chính là Đài Loan); tuy nhiên năm 2009 công ty không ký được hợp đồng gia công nào cho mặt hàng áo váy và áo sơ mi do khủng hoảng kinh tế làm giảm sức mua.
  • Thị trường và đối tác: Thị trường Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm hơn 25% trị giá gia công của công ty (chủ yếu gia công áo Jacket và sơ mi). Thị trường lớn thứ hai là Nhật Bản, tiếp theo là Hàn Quốc (kim ngạch năm 2005 đạt 166.167 USD). Các khách hàng trọng điểm gồm: TKNY (Mỹ - áo Jacket, quần jeans), Woosung (Hàn Quốc - áo Jacket), JEANE'S (áo váy), AHRIM (áo Jacket, quần), WOOBO (áo Jacket).
  • Hình thức gia công: Phương thức gia công đơn thuần (nhận nguyên vật liệu giao thành phẩm) chiếm tỷ trọng áp đảo (năm 2005 chiếm 99,78% tổng trị giá gia công, đến năm 2009 giảm nhẹ còn khoảng 88%). Phương thức mua đứt bán đoạn (FOB) mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ do hoạt động tiếp thị còn yếu.
  • Quy trình thực hiện hợp đồng: Văn bản trình bày chi tiết chuỗi tác nghiệp khép kín gồm: khai thác hợp đồng (thông qua VCCI, Bộ Thương mại, khách hàng giới thiệu, hội chợ triển lãm); nghiên cứu thị trường và xin cấp hạn ngạch; thẩm tra đối tác; xem xét tính khả thi của hợp đồng qua hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ nội bộ (phiếu tiếp nhận yêu cầu biểu mẫu 03/1, phiếu xem xét hợp đồng biểu mẫu 03/3, phiếu chào hàng báo giá biểu mẫu 03/7); soạn thảo, ký kết, quản lý sửa đổi bổ sung; triển khai lập kế hoạch sản xuất (kế hoạch năm mang tính định hướng, kế hoạch quý phục vụ báo cáo ngân hàng vay vốn, kế hoạch tháng là kế hoạch tác nghiệp trực tiếp); và giao hàng xuất khẩu.

Đánh giá thực trạng cho thấy công ty có ưu thế về năng lực sản xuất, quy mô 3 phân xưởng và tay nghề công nhân ổn định, giữ được các khách hàng truyền thống. Tuy nhiên, doanh nghiệp còn tồn tại các hạn chế: phụ thuộc quá lớn vào gia công đơn thuần; chưa thành lập phòng Marketing chuyên trách khiến việc tìm kiếm đối tác mới bị động; nguồn nguyên phụ liệu chưa tự chủ được mà phụ thuộc chỉ định của khách hàng nước ngoài; thu nhập bình quân của công nhân còn thấp (930.000 VNĐ/tháng năm 2009).

Chương III: Một số giải pháp chính nhằm thúc đẩy hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc tại công ty TNHH Doosol Việt Nam

Dựa trên phân tích thực trạng, tác giả xây dựng hai nhóm giải pháp:

  1. Nhóm giải pháp đối với Công ty TNHH Doosol Việt Nam:
  • Đẩy mạnh hoạt động Marketing, nghiên cứu và tiếp cận thị trường: Thành lập phòng Marketing độc lập được trang bị đầy đủ phương tiện hiện đại để nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại và quảng bá hình ảnh doanh nghiệp.
  • Mở rộng hoạt động liên doanh, liên kết: Tăng cường liên kết kinh tế - kỹ thuật với các doanh nghiệp may mặc trong nước nhằm hỗ trợ công nghệ, nguyên phụ liệu và nhận ủy thác gia công; hợp tác kinh doanh với các hãng nước ngoài thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh để tiếp cận công nghệ mới và nguồn tài chính.
  • Nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh: Đổi mới máy móc thiết bị, tối ưu hóa quy trình bố trí chuyền may, kiểm soát chặt chẽ định mức hao hụt nguyên phụ liệu.
  • Phát triển mối quan hệ đối tác: Duy trì sự gắn kết với các khách hàng truyền thống (TKNY, Woosung) đồng thời mở rộng tệp khách hàng tiềm năng tại các thị trường phi hạn ngạch.
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có bản lĩnh trong kinh doanh quốc tế: Đào tạo chuyên môn về nghiệp vụ ngoại thương, nâng cao trình độ ngoại ngữ và kỹ năng đàm phán hợp đồng cho cán bộ xuất nhập khẩu.
  • Nâng cao tỷ trọng gia công theo phương thức mua đứt, bán đoạn (FOB): Chủ động tìm kiếm nguồn cung ứng nguyên phụ liệu nội địa, giảm dần tỷ trọng gia công đơn thuần nhằm tăng giá trị gia tăng và tạo tiền đề tiến tới xuất khẩu trực tiếp.
  1. Nhóm kiến nghị đối với Nhà nước:
  • Đầu tư phát triển đồng bộ ngành dệt: Tạo sự cân đối giữa khâu sản xuất vải (ngành dệt) và khâu gia công may mặc để cung ứng nguyên liệu trong nước, giảm tỷ lệ nhập siêu nguyên phụ liệu.
  • Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính: Đơn giản hóa và hiện đại hóa quy trình thủ tục hải quan tại các cửa khẩu, nâng cao trình độ và tính minh bạch của cán bộ hải quan.
  • Ban hành chính sách ưu đãi thúc đẩy gia công xuất khẩu: Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi phục vụ đổi mới công nghệ và đầu tư mở rộng nhà xưởng.
  • Tăng cường cung cấp thông tin khoa học công nghệ: Nhà nước và các cơ quan chủ quản cần hỗ trợ thông tin dự báo thị trường, xu hướng thời trang quốc tế và các giải pháp kỹ thuật mới cho ngành dệt may.

Kết quả và đóng góp

Văn bản ghi nhận các kết quả cụ thể về chỉ tiêu kinh doanh của Doosol Việt Nam qua 5 năm khảo sát:

  • Sản lượng năm 2005 đạt 43,798 tỷ đồng, doanh thu đạt 46,353 tỷ đồng; mở rộng cơ sở hạ tầng từ 1 phân xưởng ban đầu lên 3 phân xưởng hoàn chỉnh vào năm 2007 với tổng số hơn 560 công nhân trực tiếp sản xuất.
  • Kim ngạch gia công xuất khẩu duy trì ổn định quanh mốc 4 triệu USD/năm; năm 2008 đạt 3.923.000 USD và năm 2009 đạt 4.976.000 USD. Mặt hàng áo Jacket đóng vai trò cốt lõi với sản lượng gia công năm 2005 đạt 805.632 chiếc.
  • Mức đóng góp ngân sách nhà nước đạt đỉnh vào năm 2007 với 1,712 tỷ đồng (trong đó thuế VAT đạt 1,045 tỷ đồng, thuế lợi tức đạt 473 triệu đồng). Thu nhập bình quân đầu người của lao động tăng dần qua các năm: từ 728.000 VNĐ (năm 2005) lên 790.000 VNĐ (2006), 836.000 VNĐ (2007), 913.000 VNĐ (2008) và 930.000 VNĐ (2009).

Về mặt đóng góp giải pháp, tác giả chỉ rõ việc phụ thuộc vào gia công đơn thuần (nhận nguyên liệu, giao thành phẩm chiếm tới 88% - 99,78%) mang lại tỷ suất lợi nhuận rất thấp. Hệ thống giải pháp đề xuất đã cung cấp một lộ trình rõ ràng để chuyển dịch từ hình thức gia công thuần túy sang phương thức mua đứt bán đoạn (FOB), chuẩn hóa quy trình thẩm định hợp đồng ngoại thương và đề xuất kiện toàn cơ cấu quản trị bằng việc lập phòng Marketing chuyên trách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả tự nhận định do trình độ cá nhân còn giới hạn và thời gian thực tập khảo sát thực tế tại doanh nghiệp không nhiều, các giải pháp đề xuất trong khóa luận chưa thể bao quát toàn diện mọi khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế hoạt động gia công may mặc tại doanh nghiệp.

Về mặt dữ liệu, nghiên cứu bị giới hạn trong phạm vi tài liệu nội bộ của Công ty TNHH Doosol Việt Nam, chưa tiến hành so sánh đối chiếu sâu với các doanh nghiệp cùng ngành dệt may trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung khảo sát chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu dệt may trong nước để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hiệu quả phương thức FOB, đồng thời nghiên cứu khả năng phát triển các phương thức sản xuất cao hơn như ODM (thiết kế và sản xuất) và OBM (sản xuất dưới thương hiệu gốc).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh doanh Quốc tế và Kinh tế Ngoại thương khi thực hiện chuyên đề tốt nghiệp về xuất nhập khẩu và gia công quốc tế.
  • Bộ phận nghiệp vụ xuất nhập khẩu và quản lý sản xuất tại các doanh nghiệp gia công dệt may quy mô vừa và nhỏ.

Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống quy trình 5 bước thực hiện hợp đồng gia công (từ tiếp nhận yêu cầu, lập phiếu xem xét hợp đồng 03/3, chào hàng báo giá 03/7, đến điều độ kế hoạch sản xuất tháng) và bộ số liệu tài chính, thuế, thu nhập lao động thực tế phản ánh bức tranh hoạt động của một doanh nghiệp may mặc FDI giai đoạn 2005 - 2009.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn gốc thành lập và cơ cấu sở hữu ban đầu của Công ty TNHH Doosol Việt Nam như thế nào? Công ty TNHH Doosol Việt Nam hoạt động theo quyết định có hiệu lực từ ngày 15/8/2000, là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc. Tiền thân của công ty là Công ty TNHH may mặc Liên Phương; sau khi mua lại nhà xưởng, máy móc thiết bị và tiếp nhận lực lượng công nhân lành nghề, công ty tiến hành gia công may mặc cho công ty mẹ và các đối tác nước ngoài.

2. Quy mô lao động tại các bộ phận sản xuất và phòng ban của Doosol Việt Nam được phân bổ ra sao? Theo cơ cấu tổ chức, công ty gồm 4 phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức - Hành chính (14 người), Phòng Kế hoạch - Kinh doanh (18 người), Phòng Kỹ thuật - KCS (7 người), Phòng Tài chính - Kế toán (6 người); và 3 phân xưởng may trực tiếp gồm: Phân xưởng I (187 người), Phân xưởng II (260 người), Phân xưởng III (120 người).

3. Khách hàng nước ngoài chủ yếu và các mặt hàng may gia công trọng điểm của công ty là gì? Các khách hàng chính của công ty gồm có: TKNY (Mỹ) gia công áo Jacket và quần jeans; Woosung (Hàn Quốc) gia công áo Jacket; JEANE'S gia công áo váy; AHRIM gia công áo Jacket và quần; WOOBO gia công áo Jacket. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ (chiếm trên 25% trị giá gia công), tiếp theo là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

4. Vì sao công ty cần chuyển dịch từ hình thức gia công đơn thuần sang phương thức mua đứt bán đoạn (FOB)? Gia công đơn thuần (nhận nguyên vật liệu giao thành phẩm) chiếm từ 88% đến 99,78% tỷ trọng của công ty nhưng mang lại hiệu quả kinh tế rất thấp vì doanh nghiệp chỉ thu được phí gia công thuần túy. Chuyển dịch sang phương thức mua đứt bán đoạn (FOB) giúp công ty tự chủ thu mua nguyên phụ liệu trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận và tích lũy năng lực tiến tới xuất khẩu trực tiếp.

5. Các bước triển khai kế hoạch sản xuất tại Doosol Việt Nam được phân cấp thế nào? Kế hoạch sản xuất tại công ty chia thành 3 cấp: kế hoạch năm (do cán bộ thống kê tổng hợp lập, Tổng Giám đốc duyệt, dùng định hướng và báo cáo cơ quan chủ quản); kế hoạch quý (phục vụ báo cáo công ty và làm hồ sơ vay vốn ngân hàng); và kế hoạch tháng (kế hoạch tác nghiệp trực tiếp do Trưởng phòng Xuất nhập khẩu lập dưới sự chỉ đạo của Giám đốc điều hành để điều độ 3 phân xưởng sản xuất).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Phạm Việt Nguyên đã khái quát có hệ thống cơ sở lý luận về gia công xuất khẩu và phản ánh chi tiết thực trạng sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Doosol Việt Nam giai đoạn 2005 - 2009. Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng phụ thuộc vào hình thức gia công đơn thuần, những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu đối với đơn hàng xuất khẩu, cũng như những hạn chế về khâu tiếp thị và nguồn cung nguyên phụ liệu của doanh nghiệp. Các nhóm giải pháp phát triển thị trường, đẩy mạnh phương thức gia công FOB và hoàn thiện cơ cấu tổ chức được xây dựng bám sát số liệu thực tiễn, mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác quản trị tại các doanh nghiệp may mặc gia công xuất khẩu.