MỞ ĐẦU 1. TÍNH CấP THIếT CủA Đề TÀI Duroc (D), Landrace (L) và Yorkshire (Y) là 3 giống lợn chủ yếu được sử dụng trong chăn nuôi lợn công nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Ba giống lợn này cũng tham gia vào hầu hết các tổ hợp lai theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp với các quy mô chăn nuôi khác nhau ở nước ta. LợnY và L không những được sử dụng để tạo các tổ hợp lai làm nái nền trong sản xuất lợn công nghiệp, mà các đực giống của chúng còn tham gia vào các tổ hợp lai nội x ngoại tại các trang trại quy mô vừa hoặc nhỏ và các nông hộ chăn nuôi.
Trong khi đó, lợn D được sử dụng làm đực giống cuối cùng trong các tổ hợp lai 3 giống hoặc cùng với lợn Piétrain tạo đực lai tham gia vào các tổ hợp lai thương phẩm 4 giống khác nhau. Áp dụng các biện pháp chọn lọc nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn D thuần chủng, nâng cao khả năng sinh trưởng đồng thời cải thiện khả năng sinh sản của lợn L và Y thuần là nhiệm vụ quan trọng trong khâu sản xuất lợn giống ngoại ở nước ta. Trong nhiều năm qua, một số trung tâm giống hoặc công ty giống ở nước ta đã xây dựng hệ thống sản xuất lợn theo 3 cấp, trong đó đàn cụ kỵ là các giống thuần nhập từ nước ngoài. Hàng năm, phần lớn các trung tâm hoặc công ty này đều nhập thêm một số lượng nhất định lợn đực và cái cho đàn cụ kỵ từ các nước khác nhau nhằm bổ sung nguồn gen và tăng cường chất lượng cho đàn giống.
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu trên các đàn lợn giống ngoại thuần nuôi ở nước ta đã được tiến hành nhằm đánh giá thực trạng năng suất sinh trưởng và sinh sản, ước tính một số tham số di truyền quan trọng, cũng như tiến hành một số biện pháp chọn lọc đối với các đàn lợn giống này (Nguyễn Hữu Tỉnh cs., 2013; Nguyễn Văn Đức, 2015; Trịnh Hồng Sơn, 2015; Le Van Sang cs., 2018; Trần Thị Minh Hoàng và cs. Công ty Lợn giống hạt nhân Dabaco (Công ty Dabaco) được thành lập từ năm 2010 với quy mô hiện nay là 3. Ba giống lợn chủ yếu là D, L 1 luan an và Y được tổ chức nhân giống thành các đàn cụ kỵ, ông bà và bố mẹ, trong đó đàn cụ kỵ D, L và Y có số lượng tương ứng là 225, 362 và 440 đầu con. Các nghiên cứu của Đoàn Phương Thúy cs.
(2015 và 2016) đã xác định một số tham số di truyền về một số tính trạng sinh trưởng, sinh sản đối với 3 giống thuần nuôi tại Công tyDabaco và xây dựng định hướng chọn lọc cho các giống thuần này. Trên cơ sở một số dữ liệu của Công ty Dabaco và một vài cơ sở chăn nuôi khác, Trần Thị Minh Hoàng (2019b) cũng đã ước tính giá trị giống một số tính trạng sinh sản cơ bản của lợn nái L và Y. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã không đặt ra mục tiêu cụ thể trong việc cải thiện năng suất, cũng như không thực hiện việc chọn lọc nhằm nâng cao năng suất các đàn D, L và Y thuần của Công ty Dabaco. Là một cơ sở nhân giống lợn hạt nhân, trong nhiều năm qua, Công ty đã xây dựng được một bộ dữ liệu với hệ phổ đầy đủ về kiểm tra năng suất trong giai đoạn hậu bị cũng như các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái đối với 3 giống lợn thuần D, L và Y.
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở bộ dữ liệu đã nêu trên, ước tính một số tham số di truyền, đồng thời thực hiện việc chọn lọc theo giá trị giống nhằm cải tiến năng suất của 3 giống lợn thuần nuôi tại Công ty Dabaco. MụC TIÊU CủA Đề TÀI 1. Mục tiêu chung Ước tính các tham số di truyền của một số tính trạng sinh trưởng và sinh sản, sử dụng phương pháp BLUP ước tính giá trị giống và chọn lọc theo giá trị giống nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn D, L và Y, cải thiện khả năng sinh sản của lợn L và Y thuần,góp phần đáp ứng yêu cầu sản xuất chăn nuôi lợn nước ta. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá các kết quả kiểm tra năng suất lợn hậu bị, năng suất sinh sản lợn nái, ước tính các tham số di truyền đối với một số tính trạng sinh trưởng và sinh sản của đàn cụ kỵ thuộc 3 giống lợn D, L và Y nuôi tại Công ty Dabaco; - Chọn lọc theo giá trị giống nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn đực D, L và Y thuần; - Chọn lọc theo giá trị giống nhằm cải thiện khả năng sinh sản của lợn nái L và Y thuần.NHữNG ĐÓNG GÓP MớI CủA Đề TÀI - Sử dụng một tập hợp lớn dữ liệu thu thập trong một thời gian dài, ước tính được hệ số di truyền, hệ số tương quan di truyền, tương quan kiểu hình một số tính trạng sinh trưởng, sinh sản của lợn D, L và Y thuần; - Sử dụng phương pháp BLUP chọn lọc theo giá trị giống nâng cao được tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị D, Lvà Y thuần, cải thiện được tính trạng số con sơ sinh sống/ổ của lợn nái L và Y thuần nuôi tại Công ty Dabaco.
Ý NGHĨA KHOA HọC VÀ THựC TIễN CủA Đề TÀI 1. Ý nghĩa khoa học - Ước tính được một số tham số di truyền đối với các tính trạng sinh trưởng và sinh sản của lợn D, L và Y thuần nuôi tại Công ty Dabaco; - Sử dụng phương pháp BLUP chọn lọc nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn đực D, L và Y, cải thiện khả năng sinh sản của lợn nái L và Y thuần nuôi tại Công ty Dabaco; - Bổ sung thêm tư liệu cho nghiên cứu và đào tạo về các giống lợn ngoại thuần nuôi ở nước ta. Ý nghĩa thực tiễn Góp phần nâng cao khả năng sản xuất của đàn cụ kỵ thuộc ba giống lợn D, L và Y nuôi tại Công ty Dabaco. 3 luan an Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ Sở KHOA HọC CủA VấN Đề NGHIÊN CứU Trong công tác giống vật nuôi nói chung, giống lợn nói riêng, chọn giống đóng vai trò quan trọng nhằm cải tiến di truyền, qua đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và mang lại hiệu quả kinh tế cho sản xuất chăn nuôi. Từ nhiều thập kỷ trước đây, chọn giống luôn được ưu tiên hàng đầu đối với các tính trạng có hệ số di truyền cao. Tuy nhiên, trong vài thập kỷ gần đây, việc ước tính giá trị giống trên cơ sở giá trị kiểu hình và hệ phổ con vật đã giúp các nhà chọn giống thành công đối với cả các tính trạng có hệ số di truyền trung bình và thấp.
Phương pháp dự đoán tuyến tính không sai lệch tốt nhất (Best Linear Unbiased Prediction, BLUP) để ước tính giá trị giống của vật nuôi hiện đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi. Trong vài năm gần đây, chọn giống theo bộ gen (Genomic Selection) được sử dụng ở một số nước chăn nuôi phát triển cho một số đối tượng vật nuôi chủ yếu là bò sữa, bò thịt và một phần nhất định đối với lợn. Mặc dù chọn giống theo bộ gen được coi như kỷ nguyên mới của chọn giống vật nuôi, nhưng trong điều kiện sản xuất chăn nuôi nước ta cũng như của nhiều nước khác, chọn giống dựa trên cơ sở giá trị kiểu hình và hệ phổ mà đỉnh cao là phương pháp BLUP cũng vẫn là định hướng chủ yếu và đúng đắn của công tác chọn giống vật nuôi. Tính trạng số lƣợng Tính trạng số lượng là những tính trạng thể hiện một đại lượng, giá trị của chúng được xác định bằng các phép đo (cân, đong, đo, đếm).
Hầu hết các tính trạng có giá trị về mặt kinh tế ở vật nuôi đều là những tính trạng số lượng. Cơ sở khoa học cho việc cải tiến di truyền các giống vật nuôi đó là hai hiện tượng di truyền cơ bản liên quan đến tính trạng số lượng gồm chọn giống và chọn phối: - Cơ sở di truyền của chọn giống là sự giống nhau giữa các con vật họ hàng, quan hệ họ hàng càng gần, các con vật càng giống nhau về bản chất di truyền. - Cơ sở di truyền chọn phối để nhân thuần hoặc lai tạo là hai vấn đề có bản chất trái ngược nhau đó là suy hoá cận cận huyết và ưu thế lai. Tính trạng số lượng được quy định bởi giá trị kiểu gen (Genotypic Value) và 4 luan an sai lệch môi trường (Environment Deviation).
Giá trị kiểu gen chịu tác động của rất nhiều gen, mỗi gen có tác động nhỏ, chúng gây ra các hiệu ứng: cộng gộp (Addition), trội (Dominance) và át chế hoặc tương tác (Interaction). Sai lệch môi trường được tạo ra do tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường. Giá trị được sử dụng để biểu thị cho đặc tính của một tính trạng số lượng. Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value) của một cá thể là các giá trị thu được của các phép đo khi đánh giá các tính trạng.
Giá trị kiểu hình (P) bao gồm giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E). P=G+E Tác động cộng gộp hay giá trị giống là sự tác động có tính độc lập và tích luỹ lại của tất cả các gen (A). Tác động trội được thực hiện bởi tương tác giữa các gen cùng allele (D). Tác động tương tác được thực hiện bởi tương tác giữa các gen khác allele (I).
Như vậy, giá trị kiểu gen được xác định: G=A+D+I Sai lệch môi trường cũng được phân tích thành hai phần: Sai lệch môi trường chung (General Environment, Eg) hoặc sai lệch môi trường thường xuyên (Permanent Environment, Ep) tác động tới tất cả các cá thể trong quần thể. Sai lệch môi trường riêng (Special Environment, Es) hoặc sai lêch môi trường tạm thời (Temporary Environment, Et)) tác động tới một số cá thể trong quần thể. Như vậy, sai lệch môi trường được xác định: E = Eg + Es = Ep + Et Khi bỏ qua tương tác giữa giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường, giá trị kiểu hình được thể hiện: P = A + D + I + Eg + Es Như vậy, để nâng cao năng suất của vật nuôi, những biện pháp cần phải tác động như sau: - Tác động lên yếu tố di truyền (giá trị kiểu gen): được thực hiện bởi chọn giống và lai giống.