Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng 1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước hoặc khối lượng của vật nuôi do có sự tăng lên về số lượng và thể tích tế bào.
Giai đoạn trước thành thục sinh dục có tốc độ sinh trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm dần cho đến khi đạt ổn định về khối lượng, lúc này vật nuôi thành thục về thể vóc. Để theo dõi các tính trạng sinh trưởng của vật nuôi cần định kỳ cân, đo các cơ quan bộ phận hay tổng cơ thể con vật. Khoảng cách giữa các lần cân, đo này phụ thuộc vào loại vật nuôi và mục đích theo dõi đánh giá. Đối với lợn thịt, thường cân khối lượng khi bắt đầu nuôi, kết thúc nuôi và từng tháng nuôi.
Tăng khối lượng là chỉ tiêu được dùng để đánh giá sinh trưởng của lợn. Tăng khối lượng hằng ngày là khối lượng cơ thể tăng tính trung bình cho một ngày trong một giai đoạn nuôi nhất định, đây là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá khả năng sinh trưởng của vật nuôi. Tăng khối lượng hằng ngày cao thể hiện tốc độ sinh trưởng của con vật nhanh, và là chìa khóa thành công trong chăn nuôi lợn thịt. Khả năng tăng khối lượng càng nhanh thì càng giảm thời gian sử dụng chuồng trại, lao động và các chi phí khác.
Hơn thế nữa, lợn tăng khối lượng nhanh cũng có nghĩa là tiết kiệm đáng kể lượng thức ăn ngày vì những con lợn có khả năng tăng khối lượng nhanh có khả năng chuyển hóa thức ăn tốt. Để đánh giá sinh trưởng, người ta có thể dùng sinh trưởng tuyệt đối, tương đối và tích lũy. Khả năng sinh trưởng của lợn được đánh giá bằng phương pháp kiểm tra năng suất với các chỉ tiêu theo dõi như: - Khối lương bắt đầu kiểm tra năng suất (kg): là chỉ tiêu có ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng cũng như tiêu tốn thức ăn trong quá trình nuôi kiểm tra năng suất. - Thời gian kiểm tra (ngày): là thời gian nuôi trong quá trình kiểm tra năng suất, kéo dài từ ngày bắt đầu kiểm tra đến ngày kết thúc kiểm tra.
4 - Khối lượng kết thúc (kg): là khối lượng cơ thể tại thời điểm kết thúc quá trình kiểm tra năng suất. - Lượng thức ăn sử dụng (kg): là tổng lượng thức ăn tiêu tốn cho cá thể lợn trong thời gian kiểm tra năng suất. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-11910:2018), các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng, cho thịt của lợn giống trong quy trình giám định, bình tuyển lợn giống bao gồm: - Khả năng tăng khối lượng trung bình/ngày (g/ngày): được tính bằng tổng khối lượng thịt hơi tăng trong giai đoạn kiểm tra (g) chia cho số ngày kiểm tra của cá thể lợn hậu bị đực, cái. - Dày mỡ lưng tại điểm P2 (mm): Dày mỡ lưng được đo bằng thiết bị thích hợp.
Vị trí đo tại điểm P2, cách điểm gốc của xương sườn cuối 6,5cm (đối với lợn ngoại) về hai bên vuông góc với đường sống lưng. - Mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg): Được tính bằng tổng khối lượng thức ăn tiêu thụ trong giai đoạn kiểm tra cá thể chia cho khối lượng thịt hơi tăng trong giai đoạn kiểm tra cá thể lợn hậu bị đực, cái. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng a. Yếu tố di truyền Yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn.
Các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau hay quá trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein khác nhau. Tốc độ tổng hợp protein phụ thuộc vào sự hoạt động của gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể và tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền. - Yếu tố giống: Các giống khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau, các giống lợn bản địa có tốc độ sinh trưởng và sức sản xuất thấp hơn các giống lợn ngoại. Vũ Đình Tôn và cs.
(2012) cho biết khả năng tăng khối lượng ở giai đoạn 30, 60 và 90 ngày tuổi giữa lợn Bản thuần và lợn Móng Cái lai lợn Bản có sự sai khác với mức ý nghĩa P<0,05. Nghiên cứu trên lợn Khùa và lợn lai F1 (lợn Rừng x lợn Khùa) của Nguyễn Ngọc Phục và cs. Trong khi đó trên đối tượng lợn ngoại theo kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs. (2001) lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ 25 - 90 kg có khả năng tăng khối lượng là 551,4 g/ngày và 640,3 g/ngày.
Phan Xuân Hảo (2002) công bố lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ 20 - 100 kg có khả năng tăng khối lượng là 646,0 g/ngày và 619,7 g/ngày. Hệ số di truyền của các tính trạng sinh trưởng thường có giá trị ở mức trung bình. Theo Trịnh Hồng Sơn và cs. Ngô Thị Kim Cúc và cs.
(2015) cho biết hệ số di truyền tính trạng tăng khối lượng ở lợn Piétrain, Duroc và Landrace lần lượt là 0,29; 0,30 và 0,32. Bên cạnh hệ số di truyền, các tính trạng sinh trưởng còn có mối tương quan giữa các tính trạng. Tương quan di truyền giữa các cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như tăng khối lượng và thu nhận thức ăn r = 0,65). Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch và khá chặt chẽ và biến động từ - 0,51 đến -0,56 (Nguyễn Văn Đức và cs.
Tương quan kiểu hình giữa khối lượng sơ sinh với các chỉ tiêu về khối lượng ở các mốc cai sữa, 70 ngày tuổi và 150 ngày tuổi lần lượt đạt 0,75; 0,58 và 0,609. Điều này có thể thấy khối lượng sơ sinh có tương quan kiểu hình dương và tương quan chặt với khối lượng ở các mốc thời điểm kể trên. Hay hiểu theo cách khác thì khối lượng sơ sinh cao thì khối lượng lợn ở các mốc thời điểm sau cũng cao. Muns và cs.
(2016), Johansen và cs. (2004) và Theil và cs. (2012) cho biết khối lượng sơ sinh có ảnh hưởng rõ rệt nhất tới khả năng tăng khối lượng của lợn con trong giai đoạn theo mẹ. Theo Muns và cs.
(2016), khối lượng sơ sinh có mối liên quan đến khả năng điều tiết thân nhiệt và khả năng cạnh tranh núm vú ở trong đàn. Theil và cs. (2012) cho biết khối lượng sơ sinh có tương quan thuận với khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn. Lợn có khối lượng sơ sinh cao thì khả năng duy trì thân nhiệt tốt hơn lợn có khối lượng sơ sinh thấp do đó tỷ lệ lợn con có khối lượng sơ sinh cao bị lợn mè đè chết trong giai đoạn theo mẹ thấp hơn.
Trong cả giai đoạn từ sơ sinh đến khi lợn đạt 150 ngày tuổi thì tương quan kiểu hình giữa khối lượng sơ 6 sinh với tăng khối lượng ở giai đoạn này đạt 0,628. Theo Miar và cs. (2014) tương quan kiểu hình của khối lượng sơ sinh và tính trạng tăng khối lượng là 0,42. - Yếu tố tính biệt: Evan và cs.
(2003) cho biết, lợn đực lớn nhanh hơn lợn cái. Lợn đực hậu bị có tốc độ lớn nhanh nhưng không được người tiêu dùng ưa thích vì mùi vị của nó. Các yếu tố ngoại cảnh - Ảnh hưởng của dinh dưỡng Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc. Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần thức ăn là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển khả năng tăng khối lượng, tỉ lệ nạc mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt.
Tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và khoáng. Việc bổ sung các axit amin giới hạn vào khẩu phần lợn thịt giúp tăng khối lượng nhanh, tiết kiệm được thức ăn và protein. Chẳng hạn, bổ sung lysin đủ nhu cầu vào khẩu phần cho lợn sẽ làm cơ bắp phát triển nâng cao tỉ lệ nạc. Nuôi lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ sinh trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp và khi mức năng lượng và protein thấp trong khẩu phần làm tăng khả năng tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Wood và cs.
- Ảnh hưởng của mùa vụ Lợn điều chỉnh thân nhiệt của chúng bằng cách cân bằng nhiệt lượng mất đi với nhiệt tạo ra qua trao đổi chất và lượng nhiệt hấp thụ được. Khi sự khác nhau giữa thân nhiệt và nhiệt độ môi trường trở nên lớn thì tỉ lệ thoát nhiệt sẽ tăng lên. Về mùa lạnh nhiệt độ môi trường xuống thấp dưới nhiệt độ hữu hiệu thì tăng thêm chi phí thức ăn để tăng nhiệt lượng trao đổi chất để vật nuôi tự nó tạo ra nhiệt lượng để giữ ấm cho cơ thể. Ảnh hưởng của mùa vụ đến lượng thức ăn thu nhận của lợn trong giai đoạn sinh trưởng là rất rõ rệt.
Theo Gourdine và cs. (2006), trong suốt giai đoạn mùa hè, lượng thức ăn thu nhận hàng ngày giảm 20% ở giống lợn Yorkshire và 14% ở giống lợn địa phương, do sức chịu đựng khí hậu nóng của lợn Yorkshire kém hơn 7 giống lợn địa phương. Khi lượng thức ăn thu nhận giảm đã dẫn tới sinh trưởng giảm. - Thời gian nuôi Thời gian nuôi ảnh hưởng lớn đến năng suất thịt.
Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn người ta đề ra hai phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian nuôi ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn phương thức nuôi lấy thịt - mỡ, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn. - Chăm sóc nuôi dưỡng Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hoặc cao hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho phép đều là các yếu tố bất lợi đối với sinh trưởng của lợn thịt. Các nhân tố stress trong thời gian chăn nuôi cũng ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất, sức sản suất thịt của lợn. Khả năng sinh sản của lợn và các yếu tố ảnh hưởng 1.
Số lượng và chất lượng tinh của lợn đực giống và các yếu tố ảnh hưởng * Chỉ tiêu đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch lợn - Thể tích tinh dịch (V, ml): là lượng tinh dịch thu được sau khi đã được lọc bỏ keo phèn mà lợn đực xuất ra trong một lần thực hiện thành công phản xạ xuất tinh. - Hoạt lực tinh trùng (A, %): là tỷ lệ tinh trùng có hoạt động tiến thẳng so với tổng số tinh trùng quan sát được. - Nồng độ tinh trùng (C, triệu/ml): là số tinh trùng có trong 1ml tinh nguyên.