Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm heo Yorshire và heo Landrace 1.1 Heo Yorkshire Yorkshire là giống heo có nguồn gốc ở vùng Yorkshire, Vương quốc Anh. Được công nhận giống vào năm 1868 và được sử dung rộng rãi trên thé giới, là tổ tiên của heo Yorkshire Mỹ tại Bắc Mỹ. Về ngoại hình, Yorkshire có da mau trắng truyền, đầu nhỏ, mũi gãy, tai to hướng về phía trước, mình đài, lưng thắng, ngực nở, bụng gọn, mông tròn, bốn chân chắc khỏe. Ban đầu heo Yorkshire được phát triển như là một giống heo nuôi ngoài trời, nhưng ngày nay, đây là giống nuôi nhốt và được thị trường ưa chuộng và có lượng thịt nạc lớn.
Về năng suất heo Yorkshire là giống thành thục sớm, sinh trưởng nhanh. Heo 6 tháng tuổi trọng lượng thường dat từ 90 - 100 kg, khi trưởng thành, con cái nặng 280-350 kg, con đực cân nặng tới 450 kg. Heo Yorkshire có khả năng sinh sản cao, mỗi năm có thê đẻ từ 2,0 - 2,2 lứa, trung bình lứa đẻ 10 - 12 con, khối lượng sơ sinh đạt 1,0 - 1,2 kg, khả năng tiết sữa cao (60 - 80 kg). Có nhiều ưu điểm như tam vóc lớn, thé chất khỏe, khả năng thích nghi cao, chịu kham khổ, thích hợp với hướng chăn thả, sinh trưởng phát dục nhanh, đẻ nhiều con (Nguyễn Thiện và ctv, 2016).2 Heo Landrace Giống heo Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch được hình thành vào khoảng năm 1924 - 1925, bởi quá trình lai tạo chính giữa giống heo Youtland có nguồn gốc từ Đức và heo Yorkshire có nguồn gốc từ Anh.
Heo toàn thân có màu trắng tuyên, đầu nhỏ và dai, tại to đài rủ xuống kin mặt, dáng hình thoi nhọn, cổ nhỏ và dai, mình đài, vai - lưng - mông - đùi rất phát triển, là giống heo tiêu biểu cho hướng nạc. Heo Landrace có khả năng sinh sản tốt, đạt trung bình 1,8 - 2,2 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ bình quân từ 10 - 12 con, khối lượng sơ sinh đạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa từ 12 - 15 kg, khả năng tiết sữa từ 5 - 9 kg/ngay. Đồng thời, Landrace có khả năng sinh trưởng rất tốt, hệ số chuyên hóa thức ăn thấp, tăng trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt.
Heo có khả năng tăng khối lượng từ 750 - 800 g/ngày, 6 tháng tuổi heo thịt có thé đạt 105 - 125kg. Khi trưởng thành con đực nặng tới 400 kg, con cái 280 - 300 kg (Nguyễn Thiện và ctv, 2016).2 Đặc điểm di truyền về năng suất sinh sản ở heo Yếu tổ di truyền bao gồm những đặc tính sinh học được truyền từ thế hệ nay sang thé hệ khác. Ở các dong khác nhau trong cùng một giống sẽ cho năng suất sinh sản khác nhau vì đó là đặc tính di truyền của chúng (Phạm Trọng Nghĩa, 2005). Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản thường có hệ số di truyền thấp vì nó chịu nhiều ảnh hưởng lớn bởi điều kiện môi trường và phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng, mùa vụ, chuồng trại, đực giống, phương thức phối giống, thời điểm phối, khả năng phòng trừ dịch bệnh.
Trong chọn lọc, các tính trạng năng suất sinh sản thường đạt tiến bộ di truyền chậm hơn so với nhóm tính trạng sinh trưởng và chất lượng thịt. Để tăng hiệu quả chọn lọc cần phải tìm biện pháp nâng hệ số di truyền các tính trạng số lượng, tăng khả năng tương tác giữa các gen. Sự sai lệch về đi truyền chịu trách nhiệm đến 50 % số phôi thai chết, dù vật nuôi ở điều kiện ngoại cảnh tốt nhất cũng không thé làm cho con vật vượt khỏi tiềm năng di truyền của bản thân nó (Trần Thị Dân, 2003).3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của heo nái Hiệu quả của chăn nuôi heo nái sinh sản được đánh giá bằng số con cai sữa/nái/năm và tổng khối lượng heo con cai sữa. Trong các trại chăn nuôi hiện đại, số heo con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu quan trọng, đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của heo nái (Gordon, 2004).
Chỉ tiêu này phản ánh được toàn bộ chu kỳ sản xuất của một nái trong một năm. Do đó, để tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản thì phải nâng cao số con cai sữa và khối lượng heo con lúc cai sữa. Ngoài ra, sức sinh sản của nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần dau, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, ty lệ thụ thai, số con đẻ ra/6, số con cai sữa/ô, khối lượng toàn 6 621 ngay tuổi, số lứa đẻ/nái/năm va thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại. Tuôi động dục lần đầu (ngày) : Là thời gian từ sơ sinh đến khi heo cái hậu bị động dục lần đầu.
Tuổi động dục đầu tiên là yếu tố quyết định hiệu suất suốt đời của nai (Foxcroft và ctv, 2006). Tuôi phối giống lần đầu (ngày): Là thời gian tinh theo ngày tuôi đến khi heo được phối giống lần đầu. Thời điểm phối giống quyết định tỷ lệ đậu thai và số heo con đẻ ra trên ô. Vì thế khi cho phối giống cần xác định đúng thời điểm.
Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục lần thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert và ctv, 1998). Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): Là số ngày tuổi khi heo nái đẻ lứa đầu tiên, phụ thuộc vào nhóm giống, điều kiện chăm sóc và cũng liên quan đến tuổi phối giống lân đâu. Số lứa đẻ nái năm (lứa): phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Do đó, để tăng số lứa đẻ nái năm người ta rút ngắn thời gian nuôi con, thời gian từ lúc cai sữa đến khi phối giống lại.
Số con đẻ ra/ố (con): Là tổng số con đẻ ra trong 1 6 bao gồm cả số con đẻ ra sống và chết. Số con đẻ ra/ô phụ thuộc nhiều vào yếu tố như: Thời điểm lên giống, kỹ thuật phối giống, số lần phối, tỷ lệ chết phôi trong thời gian mang thai, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng sau khi phối đến khi đẻ, chuồng nuôi, v.v đều ảnh hưởng đến chỉ tiêu này. Số con đẻ ra sống/ô (con): Là số con đẻ ra còn sống được đến khi heo mẹ đẻ ra con cuối cùng. Đây là chỉ tiêu phản ánh khả khăng đẻ sai hay ít con của giống đồng thời phản ánh cả chất lượng đàn con đẻ ra.
Số con đẻ ra chét/6 (con): Có thé là thai gỗ, thai chết lưu, chết trong quá trình đỡ đẻ, chết trong thời gian từ khi đẻ con đầu tiên đến con cuối cùng (thường được tính trong vòng 24h). Khối lượng sơ sinh toàn 6 (kg): La khối lượng sau khi heo con được đẻ ra. Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của heo mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho heo nái. khối lượng sơ sinh cao hay thấp ảnh hưởng đến các giai đoạn sau này.
Khối lượng 21 ngày tuổi toàn ô (kg): Đánh giá khả năng tiết sữa của heo nái và khả năng tăng trọng của đàn con. Số con cai sita/6 (con): Đây là chỉ tiêu đánh giá quan trong trong việc đánh giá hiệu quả chăn nuôi heo nái sinh sản. Chỉ tiêu này cho biết chất lượng của con giống, trình độ chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như quy trình vệ sinh, phòng bệnh dịch của các nhà chăn nuôi. Khối lượng cai sữa/ổ (kg): Đánh giá khả năng tăng trọng của heo con, kha năng tiết sữa của heo mẹ và kỹ thuật của người chăn nuôi.
Thời gian động dục trở lai sau cai sữa (ngày): Là thời gian được tinh từ lúc cai sữa đến lúc động dục trở lại của heo nái. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống heo, thê trạng, chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa. Chỉ tiêu này đánh giá được tỷ lệ hao hụt của heo nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng heo nái nuôi con và heo nái chờ phối. Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày): Khoảng cách 2 lứa đẻ là thời gian từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo, bao gồm thời gian nuôi con + thời gian chờ phối + thời gian mang thai.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của heo nai Năng suất sinh sản của heo nai có mối liên quan với hai yếu tố là di truyền và ngoại cảnh.1 Yếu tố di truyền Giống: Là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến chỉ tiêu sinh sản của heo nai Theo Legault (1980) các giống heo có thé được xếp thành bốn nhóm chính: - Các giống heo đa dụng như giống Landrace, Yorkshire có khả năng sản xuất thịt cao và khả năng sinh sản khá.
- Các giống heo chuyên dụng dong mẹ điển hình là các giống heo nguyên chủng như Meishan của Trung Quốc, có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng sản xuất thịt kém. - Các giống chuyên dụng dòng bố như giống Duroc, Pietrain, Poland-China, Hampshire có năng suất sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng. Ngoài ra chúng có chiều hướng kém về kha năng nuôi con, điều này được thé hiện thông qua tỷ lệ heo con chết trước lúc cai sữa cao hơn so với các giống đa dụng (Blasco và ctv, 1995). - Các giống dia phương nói chung là kha năng sinh sản và cho thịt đều hạn chế nhưng có khả năng thích nghỉ tốt với điều kiện địa phương.
Gen: Trước đây tính trạng số lượng nói chung và các tính trạng sinh sản nói riêng được quan niệm do ảnh hưởng của rất nhiều gen và ảnh hưởng của ngoại cảnh, mỗi gen có một tác động rất nhỏ. Sau này với sự phát triển vượt bậc về lĩnh vực di truyền phân tử và công nghệ sinh học đã cho phép khám phá ra nhiều nhóm gen hoặc những gen riêng biệt có ảnh hưởng lớn đến tính trạng số lượng, các gen này gọi là gen chủ (Major Gene) hay gen QTL (Quantitative Trait Loci). Các QTL này được phát hiện nhờ liên kết với gen đánh dấu (marker gene). Gen đánh dấu là đoạn DNA ngắn, dễ phân tích.
Việc chọn lọc có thể hoàn toàn dựa vào sự có mặt của gen đánh dau hoặc có thé sử dụng gen đánh dấu đề hỗ trợ cho quá trình chon lọc, gọi là chọn lọc có hỗ trợ của gen đánh dấu (Markers Assisted Selection - MAS) (Dekkers, 2007). Bộ gen của heo gồm nhiều cặp nhiễm sắc thể (19 cặp), trong đó 1 chuỗi DNA dài khoảng 3 tỷ cặp bazơ (base pair, bp). Chuỗi DNA này chứa khoảng 100.000 gen chức năng, chúng xen kẽ với những đoạn DNA không hoặc có ít chức năng (Haley và Visscher, 1998).