CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh học chung của lợn Lợn là loài gia súc có nhiều đặc điểm quý phù hợp với nhu cầu của con người, Tuy nhiên, phải tạo ra những điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý thì những đặc điểm quý ấy mới có thể phát huy tối đa. Nuôi dưỡng chăm sóc hợp lý không những làm cho các đặc tính tốt thể hiện và phát huy một cách đầy đủ mà còn có thể ảnh hưởng đến tính di truyền, làm cho nó phát triển theo những hướng nhất định, đồng thời nâng cao khả năng sản xuất có lợi cho việc tạo các giống mới.
Muốn vậy chúng ta phải hiểu biết sâu sắc các đặc điểm sinh vật học của lợn để khai thác ứng dụng trong sản xuất cho có hiệu quả. Nguồn gốc của lợn nhà Lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành. Quá trình thuần hoá lợn rừng bắt đầu cách đây khoảng 8000-10000 năm về trước. Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng khác nhau, do điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không đồng đều dẫn đến việc hình thành các giống lợn khác nhau.
Lợn nhà ngày nay bắt nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại, là lợn rừng châu Âu (Sus serofa ferus) và lợn rừng châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) được con người thuần hoá trong một thời gian dài mà hình thành. Có thể tóm tắt quá trình hình thành lợn nhà như sau: n 5 Lợn rừng châu Âu Lợn rừng châu Á Lợn nguyên thủy châu Âu Lợn nguyên thủy châu Á Lợn tai dài Lợn tai ngắn Lợn tai ngắn Lợn tai dài Giống lợn cổ đại Giống lợn ngày nay Hình 1.1: Sơ đồ nguồn gốc lợn nhà Quá trình thuần hoá lợn ở Việt Nam diễn ra rất sớm. Phụ thuộc vào các yếu tố: đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng chăm sóc nên mỗi vùng của đất nước sự phân bố các giống lợn nuôi cũng khác nhau. Vùng đồng bằng sông Hồng nuôi giống lợn Ỉ và các giống lợn lang là chủ yếu (lợn Móng Cái, lợn lang Thái Bình…).
Ở miền núi phía Bắc và Tây Bắc nhân dân ta thường nuôi lợn Mường Khương, lợn Mẹo, và một số từ miền xuôi đưa lên như lợn lang, lợn Ỉ. Ở các tỉnh miền nam thường nuôi lợn Thuộc Nhiêu, lợn Ba Xuyên, Tạp Ná, Vân Pa. Lợn nhà là động vật thuộc hệ guốc chẵn, lớp thú (theo J. Walker và Mo.
Spadden, 1957, Animal journal of the world), cây động vật của lợn phát triển như sau: Lớp thú có vú: Manmalia n 6 Lớp phụ Một móng: Ungulata Phân bộ Không nhai lại: Nonruminantia (sui formes) Bộ Guốc chẵn: Artiodactyla Bộ phụ Răng cục: Neobunodontia Họ Lợn: Sui dae 1. Lợn là loài có khả năng sinh sản cao Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8-2,4 lứa/năm và đạt 10-12 con/lứa. Lợn nái có số vú nhiều, khả năng tiết sữa cao. Số lượng vú, khả năng tiết sữa và số con đẻ ra liên hệ mật thiết với nhau.
Các giống nội thường có từ 10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có từ 12-16 vú. Lợn là loài gia súc có khả năng thành thục sớm, nhất là các giống lợn nội của Việt Nam, do quá trình chọn lọc, nuôi dưỡng, tập quán chăn nuôi và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới. Lợn đực 40-50 ngày tuổi đã có biểu hiện động dục và có khả năng giao phối, cơ quan sinh sản có khả năng tạo ra tinh trùng. Lợn là loài gia súc ăn tạp, khả năng chịu đựng kham khổ cao Khả năng thích nghi của lợn là khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường sống, từ môi trường cũ sang môi trường mới con lợn vẫn sinh tồn phát triển, giữ vững được các tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm này cho đời sau.
Lợn trong mọi giai đoạn khác nhau có thể thích hợp với nhiều loại thức ăn khác nhau, Tuy nhiên, lợn con có phạm vi thức ăn hẹp hơn. Một số giống lợn có thể thích hợp với khẩu phần ăn có chất lượng thấp và nhiều xơ. Những giống lợn này có vai trò quan trọng trong chăn nuôi quảng canh. Điều này đã được chứng minh trong thực tế ở nhiều quốc gia mà ở đó người ta sử dụng nhiều rau xanh và bổ sung một lượng nhỏ protein để nuôi lợn.
Với phương n 7 thức này người chăn nuôi đã làm giảm năng lượng đầu vào và nâng cao hiệu quả sản xuất của lợn nái. Tuy nhiên, trong các hệ thống chăn nuôi hiện đại những thuận lợi này không còn được ứng dụng nữa. Lợn là loài có năng suất thịt cao, chất lượng thịt mỡ tốt Lợn là những cỗ máy chuyển hóa thức ăn có hiệu quả, có tốc độ sinh trưởng cao. Điều này đã rút ngắn thời gian nuôi và có ý nghĩa hạn chế rủi ro về kinh tế.
Một con lợn nái có thể đẻ 8-12 con/lứa sau khoảng thời gian 114 ngày chửa và trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì có thể đạt 2 lứa/năm. Khả năng sản xuất thịt cũng khá cao (Trần Văn Phùng và cs, 2004)[18]. Lợn có thể sản xuất một lượng mỡ đáng kể. Mỡ là một nguồn dự trữ năng lượng lớn.
Mỡ còn giúp cho thịt có mùi vị ngon hơn. Con người rất cần một số acid béo từ thịt lợn hay mỡ lợn. Ngoài ra, thịt lợn vốn là loại thực phẩm có giá trị cao. Lợn có nhiều đóng góp có giá trị cho đời sống của con người.
Hầu hết thân thịt lợn được chế biến làm thức ăn cho con người. Sự phát triển của công nghệ chế biến thịt xông khói, lên men đã tạo nên một số lượng sản phẩm rất đa dạng từ thịt lợn. Các công nghệ này đã giúp cho quá trình bảo quản, nâng cao tính đa dạng, hương vị và nâng cao phẩm chất khẩu phần ăn cho con người. Lợn công nghiệp ngày nay có năng suất thịt cao hơn so với các giống lợn truyền thống (khoảng 49% trọng lượng sống), bù vào đó lợn truyền thống có tỷ lệ mỡ cao hơn lợn công nghiệp ngày nay.
Nếu đem so với trâu bò hay gia cầm thì tỷ lệ thịt chỉ vào khoảng 38-45% (Trần Văn Phùng và cs, 2004)[18] 1. Lợn là loài gia súc có khả năng thích nghi cao, dễ huấn luyện Lợn có khả năng thích cao với các điều kiện khí hậu khác nhau, do đó địa bàn phân của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới. n 8 Khả năng thích nghi của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm tốt này cho đời sau. Khi di chuyển từ vùng ôn đới sang nhiệt đới và ngược lại, lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống.
Trong thực tiễn sản xuất, người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho lợn có phản xạ có điều kiện thuận lợi như: tập cho lợn có phản xạ bài tiết phân, nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn luyện đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo (Trần Văn Phùng và cs, 2004)[18]. Một số đặc điểm của giống lợn Mẹo * Xuất xứ: Lợn Mẹo thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chãn (Artiodactyla), họ Suidae, chủng Sus, loài Sus domesticus, giống lợn Mẹo. Lợn Mẹo được hình thành tại vùng núi cao của dãy Trường Sơn, nơi có khí hậu mát mẻ và địa hình đồi núi rộng rãi thích hợp cho thả rông tự do. Qua hàng trăm năm sống ở vùng núi cao, lợn Mẹo đã thích nghi và phát triển tốt trong điều kiện sinh thái, kinh tế và tập quán chăn nuôi của người H'Mông địa phương.
* Phân bố: Lợn Mẹo được nuôi chủ yếu ở vùng núi tỉnh Nghệ An, Cao Bằng, Bắc Kạn tập trung nhiều ở các huyện vùng cao, vùng sâu nơi có nhiều đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống. * Đặc điểm ngoại hình: Lợn Mẹo có tầm vóc khá lớn, trường mình, phát triển cân đối. Lông da màu đen, da dày, lông dài và cứng, thường có 6 điểm trắng ở 4 chân, trán và đuôi, một số có loang trắng ở bụng. Đầu to, rộng, mặt hơi gãy, trán dô và thường có khoáy trán, mõm hơi dài, tai vừa phải và hơi chúc về phía trước.
Vai rộng, lưng dài rộng, phẳng hoặc hơi vồng lên. Phần hông rộng và phẳng, mông rộng và chiều cao mông thường cao hơn vai. Bụng lợn to, dài nhưng không sệ, lợn cái vú không sát đất, lợn đực bụng thon gọn hơn. Chân lợn cao, thẳng, vòng ống thô, đi đứng trên hai ngón trước.
n 9 * Khả năng sản xuất - Khả năng sinh trưởng: Lợn Mẹo được nuôi chủ yếu trong điều kiện thả rông quanh năm, ít được chăm sóc của chủ nuôi nên tốc độ sinh trưởng chậm, thời gian nuôi kéo dài, có khi đến 2-3 năm tuổi. Nhiều con lợn được nuôi trên 2 năm có khối lượng lớn từ 100-120 kg. (Lê Viết Ly, 1964)[16] Khối lượng cơ thể của lợn Mẹo (kg) Tháng tuổi Khối lượng (kg) Sơ sinh 0,48 1 tháng 2,39 2 tháng 4,20 4 tháng 13,00 6 tháng 25,00 9 tháng 43,90 12 tháng 64,20 24 tháng 82,80 36 tháng 114,90 - Khả năng sinh sản: Lợn đực thành thục sinh dục sớm, có thể nhảy cái lúc 4-5 tháng tuổi, nhưng lợn cái thành thục sinh dục muộn, tới 8-9 tháng tuổi mới động dục, cá biệt có con tới 1 năm tuổi mới động dục lần đầu. Lợn đực Mẹo có phẩm chất tinh khá tốt và ổn định qua theo dõi từ lúc 8-9 tháng đến 2 năm tuổi (Lê Văn Tố, 1969)[27].
Lợn nái Mẹo được nuôi trong điều kiện thả rông ở miền núi có số lứa đẻ thấp (trên 1 lứa/năm), nhưng nuôi ở đồng bằng điều kiện chăm sóc và chế độ dinh dưỡng tốt hơn đã cho khả năng sinh sản cao hơn. Trong điều kiện nuôi thả rông miền núi mỗi lứa lợn Mẹo chỉ đẻ trung bình 6-7 con, lứa đầu thường chỉ 3-4 con, tỷ lệ nuôi sống thấp (khoảng 60-70% nhưng ở đồng bằng các chỉ tiêu này cao hơn, lứa 1 đẻ trung bình 8 con, lứa 3-4 đẻ 9- 10 con. n 10 Chu kỳ động dục của lợn Mẹo trung bình 18-21 ngày, thời gian động dục kéo dài 2-4 ngày, khoảng cách hai lứa đẻ ở miền núi 9-10 tháng, ở đồng bằng 7- 8 tháng, tuổi phối giống thích hợp nhất là khi lợn 10 tháng tuổi, khối lượng cơ thể đạt khoảng 50-55 kg. * Tính trạng đặc biệt: Tầm vóc to, thể hình cứng cáp, bốn chân đứng thẳng đó là đặc điểm nổi bật của giống lợn này.
Đặc điểm này rất hiếm thấy trong các giống lợn nước ta.