Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Cơ sở khoa học về di truyền trong chăn nuôi lợn Lai tạo là một biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm thông qua tận dụng ưu thế lai. Thuật ngữ ưu thế lai lần đầu tiên đã được nhà khoa học người Mỹ tên là Shull đề xuất vào năm 1914. Theo ông, ưu thế lai là tập hợp của những hiện tượng liên quan đến sức phát triển nhanh hơn, khả năng chống chịu bệnh tốt hơn và năng suất cao hơn ở thế hệ đời con so với bố mẹ.
Hiện nay ở nhiều nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển thì 70 - 90% lợn nuôi thịt là lợn lai hybrid. Tại đó, ưu thế lai được coi là một nguồn lực sinh học để tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi. Khả năng cho thịt của lợn biểu hiện ở chỉ tiêu tăng trưởng trong các giai đoạn phát triển. Nếu lấy trọng lượng lúc mới sinh là 1kg thì đến 7-8 tháng tuổi, lợn đã có thể đạt 100kg tức là tăng trưởng gấp 100 lần.
Tuy nhiên tốc độ tăng trọng trung bình theo giai đoạn phát triển có khác nhau: sau khi cai sữa, lợn tăng trọng trung bình/ngày 400g, tiếp theo 500g/ngày cho đến lúc đạt 30kg, 600g/ngày cho đến 40kg, 700g/ngày cho đến 70kg. Từ đó đến khi đạt 100kg, tốc độ phát triển cơ giảm và bắt đầu tích luỹ mỡ nhanh hơn. Quy luật phát triển này được vận dụng có hiệu quả vào việc nuôi lợn thịt hướng nạc. Theo quan điểm di truyền - dinh dưỡng (genetic - nutrition) người ta hay dùng hàm số toán học Gompetz để xác định động thái tăng trưởng qua từng thời kỳ và để có khẩu phần dinh dưỡng tương ứng và hợp lý.
Tất nhiên có sự khác nhau giữa giống chưa cải tiến và giống cao sản. Chẳng hạn giống chưa cải tiến khó mà vượt quá tăng trọng 500g/ngày và khó đạt được 100kg trước 10 tháng tuổi. Trái lại các giống cao sản có thể vượt xa các chỉ tiêu đó. Hệ số di truyền (h2) của tính trạng sinh trưởng nói chung bằng 0,20 - 0,50; còn tăng trọng từ khi sinh đến cai sữa bằng 0,22; đến 112 ngày tuổi bằng 0,51; cho đến 184 ngày tuổi bằng 0,25.
Cần chú trọng đến hệ số di truyền của mắt thịt (cũng là của tỷ lệ nạc) vì h2 của “mắt thịt" là khá cao. Hệ số di truyền của mắt thịt khá cao (h2 = 0,66). Tương n 5 quan giữa "mắt thịt" và tổng số lượng thịt ở thân thịt xẻ là r =0,626. Những tính trạng có h2 cao sẽ có hiệu quả chọn lọc cao.
Hiệu quả chọn lọc được tính bằng h2 nhân với ly sai chọn lọc, mà ly sai chọn lọc là độ lệch trung bình giữa trung bình của đàn và trung bình của cá thể trong đàn được giữ lại để chọn lọc (Nguyễn Thiện và cs, 2005)[24]. Giới thiệu giống lợn địa phương nuôi tại miền núi phía Bắc Việt Nam Ở nước ta hiện nay tập đoàn giống lợn địa phương rất phong phú. Miền núi phía Bắc Việt Nam nuôi phổ biến là các giống: lợn Mẹo, lợn Mường Khương, lợn Táp Ná, lợn địa phương Pác Nặm,. Trải qua quá trình chọn lọc, các giống lợn ở nước ta đã thích nghi với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa phương.
Chúng có đặc điểm di truyền quý giá đó là khả năng sử dụng các loại thức ăn thô xanh, nghèo dinh dưỡng và tính chống chịu các bệnh tật nhiệt đới rất tốt. Một số giống lợn đẻ nhiều con và có phẩm chất thịt thơm ngon, một số giống thích nghi với vùng núi cao, nhiệt độ thấp và một số lại quen với môi trường ẩm ướt (Lê Viết Ly, 1994) [16]. Giống lợn địa phương có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc. Giống lợn địa phương có những ưu điểm nổi bật như rất phù hợp với điều kiện tự nhiên miền núi phía Bắc, điều kiện canh tác của nhân dân miền núi, khả năng chịu đựng kham khổ cao, thích hợp với phương thức chăn nuôi chăn thả.
Tuy nhiên, những giống lợn này cũng có nhiều nhược điểm như kết cấu ngoại hình xấu, lưng võng, bụng xệ, tầm vóc nhỏ, đẻ ít con, sinh trưởng chậm. Do một số quan niệm chưa khoa học của người dân trong công tác chọn giống và chăm sóc nuôi dưỡng, cùng với xu thế phát triển hiện nay, với trào lưu phát triển của các giống lợn nhập nội có năng xuất cao đã tạo ra các giống lợn lai với ưu thế hơn hẳn thì các giống lợn bản địa có xu hướng bị thu hẹp dần. Đặc biệt với nhóm lợn đen tuyền của giống lợn bản địa nuôi tại Pác Nặm, do những đặc điểm ưu việt về chất lượng thịt được người tiêu dùng ưa chuộng cho nên xu thế tuyệt chủng đang dần hiện hữu. Vì vậy chúng ta cần tìm ra các biện pháp bảo tồn và phát triển các giống lợn địa phương.
Đặc điểm của giống lợn địa phương Pác Nặm : Dựa vào màu sắc lông da có thể chia làm 3 nhóm như sau : n 6 • Nhóm đen tuyền Toàn thân đen tuyền. Nhóm này có đặc điểm là tương đối nhỏ, có đặc điểm hoang sơ hơn. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H'mông và dân tộc Dao. Hiện nay số lượng còn không nhiều chỉ chiếm từ 6,10% - 8,33% đàn lợn nái điều tra, 2,42 - 3,92% đàn lợn thịt.
Nguyên nhân là do mặc dù có khối lượng nhỏ, lớn chậm nhưng thịt ngon, nên nhiều người tìm mua bán về dưới xuôi, làm suy giảm đáng kể số lượng đàn lợn. Cần có biện pháp bảo tồn tránh nguy cơ tuyệt chủng. • Nhóm lợn đen có một số điểm trắng Toàn thân lợn có màu đen và có điểm trắng ở một số vị trí như gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi có một nhúm lông màu trắng. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H'mông và dân tộc Dao.
Về số lượng đàn lợn này chiếm tỷ lệ tương đối cao trong đàn lợn địa phương. Trong đàn lợn nái, nhóm lợn đen có một số điểm trắng chiếm từ 40,24% - 58,33%; đối với đàn lợn thịt chiếm từ 30,99% - 43,79%. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở khu vực các thôn vùng cao của các xã, khối lượng cũng lớn hơn nhóm đen tuyền. • Nhóm lợn lang trắng đen Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ.
Các vết lang trắng không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít. Các vết lang này thường phân bố ở bụng, ngang sườn, cổ, vai, lưng, gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi. Phần còn lại có da và lông màu đen. Nhóm lợn này chiếm từ 33,34% - 53,66% tổng đàn lợn nái; từ 52,29 - 66,59% tổng đàn lợn thịt.
Nhìn chung nhóm lợn lang trắng đen này có tầm vóc to hơn và lớn nhanh hơn được nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có người dân tộc Tày sinh sống. Đặc điểm sinh trưởng của lợn 1. Khái niệm sinh trưởng và phát dục của lợn Theo Nguyễn Thiện và cs (2005)[24] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác n 7 nhau.
Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì hai quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất. Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định. Sinh trưởng còn được hiểu theo nghĩa khác là một quá trình tích luỹ chất thông qua quá trình trao đổi chất, là sự tăng lên về khối lượng, về kích thước các chiều các bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước (Lê Huy Liễu và cs, 2004)[13].
Các quy luật sinh trưởng và phát dục của vật nuôi thường được phân chia theo hai cách: - Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn: Quá trình sinh trưởng và phát dục của lợn được chia làm giai đoạn trong thai (prenatal) và giai đoạn ngoài thai (postnatal) (Trần Văn Phùng và cs, 2004)[19]. + Quá trình sinh trưởng trong thai là một phần quan trọng trong chu kỳ sống của lợn bởi vì các sự kiện của thời kỳ này có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của lợn. Quá trình phát triển trong thai được chia làm 3 giai đoạn nhỏ là giai đoạn phôi thai, giai đoạn tiền thai và giai đoạn bào thai. Giai đoạn phôi thai: được tính từ lúc trứng thụ tinh đến lúc 22 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử dịch chuyển và làm tổ ở sừng tử cung (trong vòng hai ngày đầu tiên), hợp tử phân chia nhanh chóng thành khối tế bào và thành các lá phôi.
Giai đoạn tiền thai: tính từ ngày 23 - 39 hình thành hầu hết các cơ quan bộ phận trong cơ thể còn non. Giai đoạn thai: tính từ ngày 40 đến khi được sinh ra là giai đoạn phát triển nhanh về kích thước và khối lượng của thai. n 8 + Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thời kỳ: bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi. - Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều: + Không đồng đều về khả năng tăng khối lượng: Lúc còn non khả năng tăng khối lượng của lợn chậm, sau đó tăng khối lượng nhanh dần, tuỳ theo từng giống lợn khác nhau mà tốc độ tăng khối lượng có khác nhau.
Điều quan trọng nhất là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết thúc vỗ béo cho thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi. + Không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan, bộ phận của cơ thể. Trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể lợn có những cơ quan phát triển nhanh, có những cơ quan phát triển chậm hơn. Ví dụ đối với lợn con thì hệ tiêu hoá, hệ cơ xương phát triển nhanh hơn hệ sinh dục.