Luận án tiến sĩ nông nghiệp lai tạo tổ hợp đực lai cuối cùng từ duroc pietrain và landrace phục vụ cho sản xuất lợn thương phẩm ở vùng trung du miền núi phía bắc

Luận án tiến sĩ nông nghiệp phân tích nông nghiệp lai tạo tổ hợp đực lai cuối cùng từ duroc pietrain và landrace phục vụ cho sản xuất lợn, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Viện Chăn Nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

1.2. Chọn lọc giống trong chăn nuôi

1.3. Lai tạo và ưu thế lai

1.4. Sức sản xuất và phương pháp đánh giá

1.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Vật liệu nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Tuyển chọn những cá thể xuất sắc về mặt di truyền làm nguyên liệu cho việc lai tạo

2.5.2. Xác định tổ hợp đực lai cuối cùng tốt nhất

2.5.3. Đánh giá khả năng sản xuất của các tổ hợp lai thương phẩm giữa 03 tổ hợp đực lai cuối cùng tốt nhất với nái lai YMC và YL nuôi tại vùng Trung du miền núi phía Bắc

2.5.4. Hiệu quả chăn nuôi lợn lai thương phẩm của các tổ hợp đực lai cuối cùng xP, P và L phối với nái lai YL và YMC

2.5.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tuyển chọn các cá thể từ 3 giống thuần Duroc, Pietrain và Landrace làm nguyên liệu tạo tổ hợp đực lai cuối cùng

3.2. Chỉ số chọn lọc theo giá trị giống về tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng của nhóm các cá thể có mặt tại thời điểm tuyển chọn

3.3. Xác định tổ hợp đực lai cuối cùng tốt nhất

3.4. Khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt và chất lượng tinh dịch của các tổ hợp lai thuận nghịch giữa các giống thuần

3.5. Các thành phần phương sai, hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa các giống thuần và tổ hợp lai trên các tính trạng kiểm tra năng suất

3.6. Các ảnh hưởng di truyền đối với tính trạng khảo sát ở các tổ hợp lai

3.7. Đánh giá khả năng sản xuất của con lai thương phẩm giữa tổ hợp đực lai cuối cùng tốt nhất với nái lai YMC và YL nuôi tại vùng Trung du miền núi phía Bắc

3.8. Nghiên cứu ảnh hưởng của đực lai cuối cùng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của con lai thương phẩm của các tổ hợp lai xP, P và L phối với nái lai F1(YxMC) và F1(YxL)

3.9. Khả năng sinh trưởng của con lai thương phẩm của các đực lai P, xP và L với nái lai YMC và YL

3.10. Năng suất thân thịt của con lai thương phẩm của 3 tổ hợp đực lai mới được tạo ra (xPD, DP và L) phối với nái lai F1(YxMC) và F1(YxL)

3.11. Đánh giá hiệu quả chăn nuôi

3.12. Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn thương phẩm của các tổ hợp giữa đực xP, P và L với nái lai YMC

3.13. Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn thương phẩm của các tổ hợp giữa đực lai xP, P và L với nái lai YL

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lai tạo lợn

Nghiên cứu tập trung vào việc lai tạo lợn từ các giống Duroc, Pietrain, và Landrace nhằm tạo ra các tổ hợp đực lai phục vụ sản xuất lợn thương phẩm tại vùng trung du miền núi phía Bắc. Các giống lợn này được chọn lọc dựa trên đặc điểm di truyền và khả năng sinh trưởng, đặc biệt là tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng, và tỷ lệ nạc. Lai tạo giúp kết hợp các ưu điểm của từng giống, tạo ra con lai có năng suất cao hơn so với giống thuần.

1.1. Giống lợn Duroc

Giống lợn Duroc được đánh giá cao về khả năng tăng trưởng nhanh, tăng khối lượng đạt 750-800 g/ngày, và tỷ lệ nạc từ 56-58%. Giống này có thân hình vững chắc, chất lượng thịt tốt, phù hợp để lai tạo nhằm cải thiện năng suất thịt.

1.2. Giống lợn Pietrain

Giống lợn Pietrain nổi bật với tỷ lệ nạc cao nhất trong các giống lợn ngoại, đạt 60-62%. Tuy nhiên, giống này kém thích nghi với điều kiện nóng ẩm, nên thường được lai với Duroc để tăng khả năng thích nghi và năng suất.

1.3. Giống lợn Landrace

Giống lợn Landracetăng khối lượng từ 750-800 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 54-56%. Giống này được đánh giá cao về khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt, phù hợp để lai tạo với các giống khác.

II. Tổ hợp đực lai

Nghiên cứu xác định tổ hợp đực lai tốt nhất từ các giống Duroc, Pietrain, và Landrace. Các tổ hợp lai được đánh giá dựa trên tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn, và tỷ lệ nạc. Kết quả cho thấy, các tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đặc biệt là tổ hợp Duroc x PietrainDuroc x Landrace, đạt tăng khối lượng trên 720 g/ngày và tỷ lệ nạc trên 58%.

2.1. Tổ hợp Duroc x Pietrain

Tổ hợp Duroc x Pietrain cho tăng khối lượng cao, độ dày mỡ lưng thấp, và tỷ lệ nạc đạt 58-59%. Tổ hợp này được đánh giá là phù hợp để sản xuất lợn thương phẩm tại vùng trung du miền núi phía Bắc.

2.2. Tổ hợp Duroc x Landrace

Tổ hợp Duroc x Landrace cũng cho kết quả tốt với tăng khối lượng trên 720 g/ngày và tỷ lệ nạc trên 58%. Tổ hợp này được khuyến nghị sử dụng trong sản xuất lợn thương phẩm.

III. Sản xuất lợn thương phẩm

Nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của các tổ hợp đực lai khi phối với nái lai YMCYL. Kết quả cho thấy, các tổ hợp lai có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất thân thịt cao, và hiệu quả kinh tế vượt trội. Đặc biệt, tổ hợp Duroc x PietrainDuroc x Landrace cho tăng khối lượngtỷ lệ nạc cao nhất, phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại vùng trung du miền núi phía Bắc.

3.1. Hiệu quả kinh tế

Các tổ hợp đực lai được đánh giá có hiệu quả kinh tế cao, giúp giảm chi phí chăn nuôi lợn và tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi. Đặc biệt, tổ hợp Duroc x PietrainDuroc x Landrace được khuyến nghị sử dụng rộng rãi.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để phát triển các tổ hợp đực lai phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn tại vùng trung du miền núi phía Bắc, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lượng thịt lợn.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Chọn lọc giống trong chăn nuôi 1. Cơ sở khoa học của chọn lọc Chọn lọc được hiểu là do tác động của con người hoặc do tác động của môi trường tại một thời điểm trong tự nhiên mà từ đó một số cá thể được tồn tại, thích nghi được môi trường và điều kiện sống mới để sinh sản và tái sinh cho quần thể và đồng thời hạn chế hoặc loại một số khác kh i quá trình sinh sản và tái sinh cho quần thể.

Mục tiêu chính của chọn lọc là làm thay đổi giá trị trung ình của một số tính trạng sản xuất ở mỗi thế hệ theo ý muốn của con người. Những tính trạng chọn lọc được chia làm 2 nhóm, đó là nhóm các tính trạng số lượng: Số con đẻ ra, TKL, TTTA, TLN, ML. và nhóm tính trạng chất lượng: Màu sắc lông da, hình dáng tai, số lượng vú. Chọn lọc được phân thành 2 loại: Chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo.

Đác-uyn cho rằng, chọn lọc nhân tạo cũng như chọn lọc tự nhiên, đều tác động đến những thay đổi cơ ản xảy ra ngay trong ản thân của các cá thể sống. - Chọn lọc tự nhiên: Là chọn lọc không có tác động của con người mà do sự iến đổi về môi trường. Những cá thể không có khả năng thích nghi với điều kiện mới sẽ tự chết, những cá thể có khả năng thích nghi sẽ tồn tại và tiếp tục hoàn thiện, sau đó tiếp tục sinh sản để duy trì nòi giống. - Chọn lọc nhân tạo: Là quá trình chọn lọc do con người tiến hành, nhằm chọn những cá thể có đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất hướng vào việc thoả mãn nhu cầu kinh tế hoặc tự nhiên của con người.

Chọn lọc nhân tạo là nền tảng của công tác cải tạo giống. Thông qua chọn lọc để xác định mục đích sử dụng con vật trong tương lai, là để nhân giống hay để sử dụng cho mục đích thương phẩm. Trong hệ thống giống lợn hiện đại, chọn giống lợn có ý nghĩa lớn nhất về đánh giá và chọn lọc ao gồm những tính trạng số lượng: Số con đẻ ra, TKL, TTTA, TLN, ML,. tùy theo chức năng của mỗi nhóm/dòng/giống, đồng thời đánh giá giá trị giống ước tính của mỗi cá thể lợn giống hay một nhóm lợn giống được xác định không phải chỉ dựa trên từng tính trạng tách iệt mà là đồng thời một lúc trên nhiều tính trạng, (Nguyễn ăn Đức.

Giá trị giống ước tính và ứng dụng trong chọn lọc a) Hệ số di truyền Hệ số di truyền khó có thể xác định chính xác được. Hệ số di truyền phản ánh sự khác nhau về di truyền giữa các quần thể trong điều kiện môi trường khác nhau. Độ lớn của hệ số di truyền, được biểu thị bằng số thập phân từ 0 đến 1 hoặc t lệ phần trăm từ 0% đến 100%. Thường người ta phân chia hệ số di truyền ra làm 3 mức độ khác nhau.

Những giá trị tính được của hệ số di truyền: < 0,2 là hệ số di truyền thấp; từ 0,2 đến 0,4 là hệ số di truyền trung bình và > 0,4 là hệ số di truyền cao. Những tính trạng có hệ số di truyền thấp, là những tính trạng chịu tác động lớn của môi trường. Hầu hết các tính trạng liên quan đến sinh sản thường có hệ số di truyền thấp, liên quan đến sinh trưởng thường có hệ số di truyền trung bình và liên quan tới chất lượng sản phẩm thường có hệ số di truyền cao. Hệ số di truyền được xác định qua mức độ giống nhau của các thân thuộc.

Quan hệ thân thuộc càng gần thì hệ số di truyền được xác định càng chính xác hơn về mặt thống kê. Tương quan giữa anh - chị - em cùng bố khác mẹ hoặc cùng mẹ khác bố và hồi qui của đời con với bố (con đực) là ít có sai lệch hơn cả. Giá trị kiểu hình của bất kỳ một tính trạng số lượng nào, đều được biểu thị thông qua giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường: P = G + E = A + D + I + Eg + Es Trong đó: P: giá trị kiểu hình G: giá trị di truyền. Giá trị di truyền do toàn bộ các gen mà cá thể có gây nên.

E: sai lệch do môi trường. Sai lệch do môi trường là do tất cả các yếu tố không phải di truyền gây nên sự sai khác giữa giá trị di truyền và giá trị kiểu hình. A: giá trị di truyền cộng gộp do tác động riêng rẽ của nhiều gen và mỗi gen chỉ có một ảnh hưởng nhỏ gây nên. D: sai lệch trội do tác động phối hợp của 2 gen cùng locus gây nên.

I: sai lệch tương tác do tác động phối hợp của 2 hay nhiều gen ở các locus khác nhau gây nên. 7 Eg: Là sai lệch môi trường chung, các sai lệch do các nhân tố môi trường tác động đến toàn bộ cá thể trong một nhóm vật nuôi hoặc tác động lên cả đời con vật… Do đó, sai lệch môi trường chung là sai lệch giữa các nhóm cá thể. ES: Là sai lệch môi trường riêng - môi trường đặc biệt; Đây là sai lệch giữa các cá thể do hoàn cảnh tạm thời hoặc cục bộ gây ra. Từ các thành phần phương sai, người ta xây dựng hệ số di truyền.

Hệ số di truyền (ký hiệu là h2) có thể được trình bày theo hai kiểu khác nhau, đó là: hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số di truyền theo nghĩa hẹp. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị bằng t lệ giữa phương sai của giá trị kiểu gen và phương sai của giá trị kiểu hình. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng còn được gọi là mức độ quyết định di truyền (được ký hiệu là h2G) và được biểu diễn bằng công thức sau: VG VA + V D + V I h2G = = VP VP Trong đó: - h2G là hệ số di truyền theo nghĩa rộng - VG là phương sai giá trị di truyền - VP là phương sai giá trị kiểu hình - VA là phương sai giá trị di truyền cộng gộp (giá trị giống) - VD là phương sai của sai lệch trội - VI là phương sai của sai lệch át gen Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị phần kiểu hình được quyết định bởi các gen cộng gộp truyền từ đời cha - mẹ đến đời con. Nói một cách khác, hệ số di truyền theo nghĩa hẹp là t lệ giữa phương sai giá trị giống và phương sai giá trị kiểu hình (VA/VP), đó là t lệ giữa phần biến dị do gen cộng gộp và toàn bộ sự biến dị do các nguyên nhân di truyền và không di truyền, (Falconer và MacKay.

8 Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp được ký hiệu là h2A và được biểu diễn bằng công thức sau: VA h2A = VP Trong đó: - h2A là hệ số di truyền theo nghĩa hẹp - VA là phương sai giá trị di truyền cộng gộp (giá trị giống) - VP là phương sai giá trị kiểu hình b) Giá trị giống ước tính Giá trị giống (GTG) của một cá thể, là một đại lượng biểu thị khả năng truyền đạt các gen từ bố mẹ cho đời con. Giá trị kiểu gen về một tính trạng nào đó của một con vật bao gồm: giá trị cộng gộp các sai lệch trội và sai lệch tương tác của các gen chi phối tính trạng đó. Giá trị cộng gộp do tác động cộng chung lại của nhiều gen, mỗi gen lại có tác động độc lập gây nên. Bố và mẹ sẽ truyền cho đời con các gen này, do đó ố và mẹ sẽ truyền cho đời con 1/2 giá trị cộng gộp của chính bản thân mình.

Trong khi đó, ở đời con do có sự kết hợp hai bộ gen gồm của bố và mẹ nên sẽ hình thành các tác động trội và tương tác mới khác với bố hoặc mẹ. Như vậy, giá trị cộng gộp được truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau theo nguyên tắc: con nhận được 1/2 của bố và 1/2 của mẹ. Do vậy, người ta cũng gọi giá trị cộng gộp là giá trị giống. Giá trị giống của một cá thể, là giá trị kiểu gen tác động cộng gộp mà cá thể đó đóng góp cho thế hệ sau.

Chúng ta không thể đánh giá trực tiếp được giá trị giống của con vật cho tới nay, cũng như trong một thời gian dài nữa. Chúng ta vẫn chưa iết được ảnh hưởng của rất nhiều các gen đóng góp tác động cộng gộp. o đó, chúng ta chỉ có thể ước tính được giá trị giống. Phương pháp duy nhất để ước tính giá trị giống của một con vật nuôi về một tính trạng nào đó, là dựa vào giá trị kiểu hình của tính trạng này ở chính bản thân con vật, hoặc dựa vào giá trị kiểu hình của tính trạng này ở các con vật họ hàng với con vật mà ta cần ước tính giá trị giống, hoặc phối hợp cả hai loại giá trị kiểu hình này.

Cách ước tính giá trị giống của một vật nuôi đối với nhiều tính trạng cũng sẽ tương tự như vậy. Giá trị kiểu hình của một con vật 9 mà ta sử dụng để ước tính giá trị giống, được gọi là nguồn thông tin giúp cho việc đánh giá giá trị giống. Trong thực tế, người ta chỉ có thể xác định được giá trị giống gần đúng của chúng từ các nguồn thông tin khác nhau, tức là giá trị giống ước lượng. Giá trị giống ước lượng này, còn được gọi là giá trị giống dự đoán hoặc giá trị giống mong đợi.

Trong các nguồn thông tin để xác định giá trị giống ước lượng thì nguồn thông tin về đời con của một cá thể là quan trọng nhất. o đó, giá trị trung bình của đời con của một cá thể chính là định nghĩa thực hành về giá trị giống của nó. Phương pháp chung ước lượng giá trị giống Dạng tổng quát cho ước lượng giá trị giống: GTG = bA.P*(P* - Pherd) (1) Hệ số hồi quy bA.P* được tính toán theo công thức: h2.P* = 1 + (n-1)rp* Trong đó: P* - là nguồn thông tin, ví dụ nguồn thông tin cá thể gồm giá trị kiểu hình của bản thân con vật, trung bình giá trị kiểu hình của cả đời, hoặc trung bình giá trị kiểu hình của anh chị em hoặc các cá thể con Pherd - là trung bình toàn đàn của tính trạng đó bA.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lai tạo tổ hợp đực lai từ Duroc, Pietrain, Landrace cho sản xuất lợn thương phẩm vùng trung du miền núi phía Bắc" tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các giống lợn lai phù hợp với điều kiện khí hậu và địa hình của vùng trung du miền núi phía Bắc. Bằng cách kết hợp các giống lợn Duroc, Pietrain và Landrace, nghiên cứu này nhằm tạo ra tổ hợp đực lai có năng suất cao, chất lượng thịt tốt và khả năng thích nghi với môi trường địa phương. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi mà còn góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn trong khu vực.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến cải thiện giống cây trồng và vật nuôi, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân trên giống chè kim tuyên tại tỉnh phú thọ, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước và khoảng cách mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển lúa séng cù tại huyện văn chấn tỉnh yên bái, và Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng phát triển của giống cam không hạt ld06 tại lục yên yên bái. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn sâu sắc về các phương pháp kỹ thuật và nghiên cứu ứng dụng trong nông nghiệp.