MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Chăn nuôi thủy cầm ở nƣớc ta là nghề truyền thống, gắn liền với nền nông nghiệp lúa nƣớc. Đây là sinh kế quan trọng đối với bà con nông dân, nhất là tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì vậy mà số lƣợng thủy cầm (trong đó phần lớn là vịt) đã không ngừng tăng lên qua các năm.
Theo số liệu Tổng cục thống kê, năm 2015 tổng đàn vịt cả nƣớc đạt 69,55 triệu con, năm 2016 đạt 71,28 triệu con, đến 4/2017 đạt 71,42 triệu con. Sản lƣợng thịt vịt xuất chuồng năm 2015 đạt 156,46 ngàn tấn, năm 2016 đạt 166,99 ngàn tấn, đến 4/2017 đạt 106,16 ngàn tấn. Sản lƣợng trứng năm 2015 đạt 3,68 triệu quả, năm 2016 đạt 3,91 triệu quả và tính đến tháng 4/2017 đạt 2,07 triệu quả. Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu của sản xuất, nƣớc ta đã nhập khẩu nhiều giống vịt của thế giới vừa trực tiếp sản xuất con giống vừa làm nguyên liệu di truyền lai tạo nhiều dòng, giống, tổ hợp lai có năng suất cao phù hợp với các loại phƣơng thức chăn nuôi khác nhau.
Tuy nhiên, các giống vịt nhập khẩu chủ yếu là ông bà, bố mẹ, nên không nuôi giữ đƣợc lâu, mặt khác tiến bộ di truyền về chọn tạo giống gia cầm hàng năm của thế giới liên tục đƣợc cải thiện, khiến chất lƣợng con giống nhập khẩu dễ tụt hậu, nếu không đƣợc nhập bổ sung hoặc không đƣợc chọn lọc cải tạo một số chỉ tiêu năng suất. Theo xu thế đó, trong thời gian qua từ các nguồn nguyên liệu nhập nội, một số cở sở nghiên cứu, sản xuất giống thủy cầm trong nƣớc đã áp dụng các phƣơng pháp chọn giống truyền thống để chọn lọc, lai tạo đƣợc một số dòng, tổ hợp lai mới có khối lƣợng xuất chuồng lớn, thời gian nuôi đƣợc rút ngắn hơn và tiêu tốn thức ăn cho 1 đơn vị sản phẩm thấp hơn. Các dòng, tổ hợp lai này phù hợp với quy mô, phƣơng thức chăn nuôi khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất trƣớc mắt nhƣng về một số chỉ tiêu năng suất quan trọng (nhƣ tỷ lệ cơ ức,.) thì chƣa đƣợc tập trung nghiên cứu. Hơn nữa, các nghiên cứu đó chỉ mới dừng lại ở phƣơng pháp chọn giống đơn giản, đó là phƣơng pháp chọn lọc một tính trạng và chọn lọc dựa trên giá trị kiểu hình là chính mà chƣa chú trọng nhiều đến giá trị kiểu gen và cũng nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu về việc nâng cao tỷ lệ thịt ức của các giống vịt hƣớng thịt ở nƣớc ta.
1 Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu của sản xuất, nhất là nhu cầu chăn nuôi công nghiệp, những năm gần đây các công ty giống gia cầm hàng đầu của thế giới đã tập trung chọn lọc, lai tạo nhiều dòng vịt vừa có khối lƣợng cơ thể lớn vừa có tỷ lệ thịt ức cao và đã đạt nhiều thành tựu rất đáng khích lệ. Một số giống vịt có thịt ức cao đã đƣợc đƣa vào sản xuất trên thị trƣờng thế giới và đã làm tăng tỷ lệ thịt xẻ, từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi lên nhiều lần. Tiếp cận xu hƣớng trên của thế giới, thời gian qua Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm Vigova thuộc Viện Chăn nuôi đã tiến hành chọn tạo một số dòng vịt hƣớng thịt có tỷ lệ thịt ức cao. Trong đó, đề tài “Chọn tạo hai dòng vịt hướng thịt để tạo tổ hợp lai thương phẩm có năng suất thịt và cơ ức cao” đƣợc triển khai tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên là theo hƣớng đó.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Chọn tạo đƣợc dòng vịt trống TS132 ở 7 tuần tuổi có khối lƣợng cơ thể và tỷ lệ cơ ức cao đạt tƣơng ứng 3,25 kg/vịt trống; 3,10 kg/vịt mái và 17%. - Chọn tạo đƣợc dòng vịt mái TS142 có tỷ lệ cơ ức cao và năng suất trứng cao, đạt tƣơng ứng 17% và 212 quả/mái/42 tuần đẻ. - Tạo đƣợc tổ hợp lai hai dòng vịt thƣơng phẩm có khả năng tăng khối lƣợng cơ thể nhanh và tỷ lệ cơ ức cao, đạt tƣơng ứng 3,1 – 3,2 kg/con và 17% ở 7 tuần tuổi. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI - Áp dụng phƣơng pháp chọn lọc đa tính trạng và sử dụng chỉ số chọn lọc dựa trên giá trị giống ƣớc tính bằng MT-BLUP để chọn lọc thủy cầm trong điều kiện chăn nuôi của nƣớc ta.
- Kết quả của đề tài là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở khoa học và đào tạo. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Chọn tạo đƣợc 2 dòng vịt và tổ hợp lai thƣơng phẩm thịt vừa có có khối lƣợng cơ thể cao vừa có tỷ lệ cơ ức cao đáp ứng yêu cầu chăn nuôi vịt theo phƣơng thức công nghiệp và trang trại. Từ đó góp phần phục vụ chiến lƣợc tái cơ cấu trong chăn nuôi gia cầm ở nƣớc ta. 2 - Kết quả của đề tài góp phần giúp các cơ sở chăn nuôi trong nƣớc chủ động sản xuất đƣợc giống vịt có năng suất thịt cao thay thế một phần con giống nhập khẩu hàng năm.
TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Tạo ra đƣợc các dòng, tổ hợp lai vịt mới có năng suất thịt và tỷ lệ cơ ức cao. - Vận dụng phƣơng pháp chọn giống thủy cầm hiện đại trong điều kiện chăn nuôi của nƣớc ta. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN CÁC TÍNH TRẠNG SỐ LƢỢNG 1.
Đặc điểm chung của các tính trạng số lƣợng Tính trạng số lƣợng là các tính trạng có thể đo lƣờng đƣợc bằng các đơn vị đo và thƣờng là các chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhằm đánh giá phẩm chất của một giống. Giá trị của tính trạng số lƣợng đƣợc gọi là giá trị kiểu hình của bản thân con vật (kí hiệu là P – phenotype). Giá trị kiểu hình đƣợc quy định bởi giá trị kiểu gen (kí hiệu là G –genotype) và sai lệch của môi trƣờng (kí hiệu là E – Environmental). Giá trị kiểu gen bao gồm tất cả những phần giá trị do toàn bộ gen của cá thể gây ra, sai lệch ngoại cảnh là phần giá trị do tất cả các yếu tố ngoại cảnh (không phải do di truyền) từ đó tạo ra sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị kiểu hình.
Do đó, giá trị kiểu hình của một cá thể đƣợc biểu thị bằng phƣơng trình sau: P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình (phenotype value) G là giá trị kiểu gen (genotype value) E là sai lệch môi trƣờng (environmental deviation) Trong một quần thể, sai lệch ngoại cảnh trung bình của toàn bộ các cá thể sẽ bằng 0, do vậy giá trị kiểu hình trung bình sẽ bằng giá trị kiểu gen trung bình. Nhƣ vậy, khái niệm trung bình quần thể liên quan đến giá trị kiểu hình hoặc giá trị kiểu gen. Nếu thừa nhận rằng ngoại cảnh không thay đổi, thì trung bình quần thể sẽ không thay đổi qua các thế hệ khi không có biến đổi do di truyền. Nếu một số cá thể có kiểu gen hoàn toàn giống nhau đƣợc nuôi trong một điều kiện ngoại cảnh bình thƣờng thì sai lệch ngoại cảnh bằng 0, do vậy giá trị kiểu hình trung bình sẽ đúng bằng giá trị kiểu gen của cá thể này.
Đây chính là giá trị kiểu gen của một cá thể. Trên thực tế điều này chỉ xảy ra trong hai trƣờng hợp đó là: (1) đối với một chỗ gen mà tại đó ngƣời ta phân biệt đƣợc kiểu gen thông qua sự khác biệt về kiểu hình. (2) đối với dòng cận huyết cao. Tuy nhiên, tính trạng của một cá thể là do nhiều gen quy định, mỗi gen có tác động nhất định và các gen cũng có tác động qua lại với nhau gọi là sai lệch di 4 truyền trội, do đó giá trị kiểu gen của một cá thể bao gồm giá trị di truyền cộng gộp, sai lệch di truyền trội và tƣơng tác giữa các gen.
Sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị di truyền cộng gộp ở chỗ: giá trị kiểu gen là giá trị của các gen ở con vật ảnh hƣởng đến chính bản thân nó còn giá trị di truyền cộng gộp là giá trị của các gen ở con vật ảnh hƣởng đến đời con của nó. Nhƣ vậy thì sai lệch di truyền trội chính là sự khác biệt giữa giá trị kiểu gen và giá trị di truyền cộng gộp, giá trị di truyền cộng gộp chính là giá trị giống của cá thể vì chỉ có giá trị này di truyền đƣợc cho đời con. Do đó, giá trị kiểu gen đƣợc biểu diễn thông qua phƣơng trình: G=A+D+I Trong đó: G : giá trị kiểu gen A : giá trị di truyền cộng gộp (còn đƣợc gọi là giá trị giống) D : sai lệch di truyền trội I : sai lệch do ảnh hƣởng tƣơng tác giữa các gen Nhƣ vậy, giá trị kiểu hình của một cá thể sẽ đƣợc biểu diễn bằng phƣơng trình nhƣ sau: P=A+D+I+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình A là giá trị di truyền cộng gộp (giá trị giống) D là sai lệch di truyền trội I là sai lệch do ảnh hƣởng tƣơng tác giữa các gen E là sai lệch của môi trƣờng 1. Các tham số di truyền đặc trưng a) Phương sai Phƣơng sai của một biến ngẫu nhiên là đại lƣợng đặc trƣng cho mức độ phân tán của các số liệu so với số trung bình (đo số liệu biến thiên của một biến), giá trị này hàm ý rằng giá trị của biến đó cách giá trị kỳ vọng bao xa.
Phƣơng sai của một biến ngẫu nhiên là bình phƣơng của độ lệch chuẩn. Công thức tính phƣơng sai của một biến ngẫu nhiên nhƣ sau: 5 = Trong đó: là phƣơng sai là mẫu biến thiên là trung bình số học của mẫu Việc phân chia các thành phần phƣơng sai theo các nguồn biến động khác nhau cho phép chúng ta có thể đánh giá đƣợc tầm quan trọng của các nguồn biến động ảnh hƣởng đến kiểu hình của tính trạng, đặc biệt là khả năng biểu hiện của tính trạng từ môi trƣờng này qua môi trƣờng khác. Sự phân chia các thành phần phƣơng sai Thành phần phƣơng sai Ký hiệu Giá trị phƣơng sai Phƣơng sai kiểu hình hoặc Vp Giá trị kiểu hình P Phƣơng sai di truyền hoặc VG Giá trị di truyền G Phƣơng sai ảnh hƣởng cộng gộp hoặc VA Giá trị cộng gộp (giá trị giống) A Phƣơng sai ảnh hƣởng trội hoặc VD Sai lệch trội D Phƣơng sai ảnh hƣởng tƣơng tác hoặc VI Sai lệch tƣơng tác gen I Phƣơng sai ngoại cảnh hoặc VE Sai lệch ngoại cảnh E b) Hiệp phương sai Hiệp phƣơng sai là sự biến thiến của 2 biến ngẫu nhiên.