CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về doanh nghiệp và năng lực tài chính doanh nghiệp 1.1 Doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 quy định “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa trên thị trường với mục đích sinh lời.2 Tài chính doanh nghiệp: Về nội dung: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và tích lũy vốn trong mỗi doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: + Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp + Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ.
Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phiếu cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng 5 khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng. + Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động.
Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động v.v… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường. + Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí v.v… Về bản chất đó là quan hệ kinh tế nhưng các quan hệ kinh tế đó lại thể hiện qua công cụ đồng tiền và đồng tiền trở thành quan hệ tài chính.
Bản chất tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước và với các chủ thể kinh tế - xã hội trong và ngoài nước. Về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quan hệ tài chính – tiền tệ trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp Hiện nay, các doanh nghiệp nước ta đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý điều tiết của Nhà nước, tài chính doanh nghiệp càng trở nên quan trọng hơn. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Nhu cầu vốn của doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng cao.
Việc lựa chọn và sử dụng công cụ tài chính nào để huy động vốn và sử dụng vốn sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà lãnh đạo và quản lý 6 doanh nghiệp rất cần có những thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp của mình để có thể kịp thời kiểm soát, chỉ đạo các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao. Tài chính doanh nghiệp có những vai trò sau: 1.1 Huy động vốn,đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, vốn là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp thường phát sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ cần xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, tiếp đến phải lựa chọn phương pháp và hình thức thích hợp nhằm huy động nguồn vốn đầy đủ từ bên trong cũng như bên ngoài, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của doanh nghiệp cho hoạt động sản xuất kinh doanh (cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn. Khi đã xác định được nhu cầu về vốn, doanh nghiệp có thể có nhiều hình thức huy động vốn khác nhau. Ngày nay, cùng với sự phát triển cùa nền kinh tế thị trường đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài. Tài chính doanh nghiệp phải đảm bảo lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn sao cho: vốn được cung cấp một cách kịp thời, thời hạn sử dụng vốn hợp lý, chi phí huy động vốn thấp, đảm bảo cơ cấu tối ưu về vốn.
Điều này sẽ tạo cho doanh nghiệp luôn được đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn một cách tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh.2 Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Muốn vậy, tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu 7 trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án, dùng thước đo tài chính để lựa chọn những dự án có mức sinh lời cao. Xác định rõ được nội dung trên sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp được các cơ hội kinh doanh.
Bên cạnh đó, tận dụng tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm lượng vốn cần huy động, tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn, tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và khác khoản thu- chi khác. Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp một cách hợp lý; tận dụng các quỹ chưa sử dụng đến coi đó như nguồn vốn sử dụng không phải mất phí. Sử dụng các quỹ khen thưởng, phúc lợi một cách hợp lý cũng góp phần quan trọng tạo sự gắn bó của cán bộ nhân viên với doanh nghiệp, nâng cao năng suất lao động, khuyến khích công nhân viên tạo ra nhiều sáng kiến hiệu quả áp dụng vào sản xuất kinh doanh, thông qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.3 Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm soát, chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ huy động vốn đến sử dụng vốn và phân phối các nguồn vốn trong doanh nghiệp. Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và các chỉ tiêu tài chính, nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, tìm ra nguyên nhân, từ đó đưa ra các quyết sách phù hợp nhằm giải quyết các mục tiêu đã đề ra.2 Năng lực tài chính của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và ý nghĩa 1.1 Khái niệm ‘Năng lực’ là khả năng đủ để làm công việc nào đó hay “năng lực” là những điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
8 ‘Năng lực tài chính của doanh nghiệp’ là khả năng đảm bảo về nguồn lực tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính là doanh nghiệp có đủ điều kiện đảm bảo vốn cho doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh hướng tới đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, hướng tới tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Năng lực tài chính của doanh nghiệp kể từ khi bắt đầu thành lập được thể hiện qua số vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh, đó là vốn đầu tư ban đầu (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp khác). Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động các nguồn vốn để bổ sung.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp lúc này không chỉ do tiềm lực tài chính của chủ sở hữu quy định, mà ở mức độ lớn hơn còn là do uy tín của doanh nghiệp đối với các tổ chức tài chính, các ngân hàng và thị trường tài chính thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu … tạo nên. Khi có uy tín, doanh nghiệp có thể huy động những nguồn lực tài chính lớn để tài trợ cho các dự án mà khả năng tài chính hiện có của doanh nghiệp không thể đáp ứng. Điều đó sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn đối với doanh nghiệp để phát triển, chớp thời cơ đầu tư đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu uy tín của doanh nghiệp thấp, doanh nghiệp có thể không huy động được nguồn lực tài chính cần có cho dự án đầu tư, hoặc sẽ phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn, hay những điều kiện cho vay khắt khe của các tổ chức tài chính, do đó sẽ làm mất đi cơ hội để đầu tư vào sản xuất kinh doanh hay hiệu quả đầu tư sẽ kém hơn.