Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giáo dục mầm non được xác định là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mĩ của trẻ em Việt Nam. Bước vào giai đoạn đổi mới giáo dục và chuẩn bị hội nhập quốc tế, yêu cầu về chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non ngày càng cao, trong khi thực tế cho thấy nhiều bất cập còn tồn tại: đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau dẫn đến chênh lệch chất lượng giữa các trường và địa phương; nhiều giáo viên vẫn bị ảnh hưởng bởi phương pháp giáo dục cũ, nặng về diễn giải, ít tạo cơ hội trải nghiệm cho trẻ; cán bộ quản lí phần lớn trưởng thành từ giáo viên có thành tích và thâm niên nhưng còn hạn chế về trình độ chuyên môn quản lí.

Tỉnh Kiên Giang thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, với tình hình kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, giáo dục mầm non tại đây đối mặt với tình trạng thiếu trường, thiếu lớp, thiếu giáo viên, cơ sở vật chất hạn chế và chất lượng giáo viên đáng lo ngại. Chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non tại địa bàn Thành phố Rạch Giá. Từ cơ sở đó, tác giả Trần Thị Thảo xác định đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lí giáo dục tại Khoa Tâm lý – Giáo dục, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (2013).

Mục đích nghiên cứu: Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên tại các trường mầm non Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường mầm non.
  2. Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên các trường mầm non Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
  3. Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non.

Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên các trường mầm non tại TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn tại 5/10 trường mầm non, mẫu giáo trên địa bàn Tp. Rạch Giá, gồm: trường Mầm non Sao Mai, Mầm non Vành Khuyên, Mầm non Họa Mi, Mẫu giáo Măng Non và Mẫu giáo Mỹ Lâm. Thời điểm khảo sát gắn với năm học 2012–2013.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên hệ thống khái niệm cốt lõi được tổng hợp từ nhiều tác giả trong và ngoài nước. Khái niệm quản lí được tiếp cận từ các định nghĩa của W. Taylor, Koontz, Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang và Phan Văn Kha. Quản lí giáo dục được trích dẫn từ Lê Bạch Tuyết, Trần Kiểm, Khu-đô-min-xki và Phạm Minh Hạc. Bồi dưỡng được định nghĩa theo Đại Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Trung tâm KHXH và NV Quốc gia, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 và quan niệm của UNESCO.

Về chuẩn nghề nghiệp, khóa luận căn cứ trực tiếp vào Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22/01/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, với ba lĩnh vực yêu cầu: phẩm chất chính trị – đạo đức – lối sống; kiến thức; và kỹ năng sư phạm. Văn bản chính sách khác được sử dụng gồm Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/07/2012 về quy chế bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non; Thông tư liên tịch số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2007; chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011–2020 theo Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; và hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2012–2013.

Bốn chức năng quản lí được vận dụng làm khung phân tích: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra – đánh giá trong quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm giáo viên.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng ba quan điểm phương pháp luận: quan điểm hệ thống – cấu trúc, quan điểm lịch sử – logic và quan điểm thực tiễn. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa tài liệu từ văn kiện Đảng, văn bản pháp quy, giáo trình và hướng dẫn chuyên môn.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: thu thập thông tin về thực trạng hoạt động bồi dưỡng và quản lí hoạt động này từ hai nhóm đối tượng: 9 cán bộ quản lí (4 hiệu trưởng, 5 hiệu phó) và 93 giáo viên mầm non tại 5 trường khảo sát.
  • Phương pháp phỏng vấn: trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lí (hiệu trưởng, hiệu phó) về một số nội dung liên quan đến thực trạng quản lí.
  • Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm thống kê SPSS để xử lý số liệu điều tra; kết quả được đánh giá qua giá trị trung bình (x̄ cho CBQL, ȳ cho GV), tỉ lệ phần trăm và độ lệch chuẩn (s).

Thang đánh giá điểm trung bình: từ 3,5–4: rất thường xuyên/rất phù hợp/rất hiệu quả; từ 2,5 đến dưới 3,5: thường xuyên/phù hợp/hiệu quả; từ 1,5 đến dưới 2,5: ít thường xuyên/ít phù hợp/ít hiệu quả; từ 1 đến dưới 1,5: không thường xuyên/không phù hợp/không hiệu quả.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường mầm non

Chương này hệ thống hóa lịch sử phát triển công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non tại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến thời điểm nghiên cứu, bao gồm các mốc chính sách quan trọng: Sắc lệnh số 146/SL (1946) thành lập bậc học Ấu trĩ; Chỉ thị 169/CT-TW (1969) xác định đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ là "khâu trung tâm"; Chỉ thị số 47/CT-TW (1978); Chỉ thị số 65/CT-TW (1979). Tác giả dẫn số liệu lịch sử ghi nhận số lượng cô nuôi dạy trẻ tăng từ 89.752 người năm 1976 lên 157.000 người năm 1986. Mục tiêu quốc gia được nêu: phấn đấu 80% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo năm 2010 và 100% năm 2015, trong đó 8% đạt trên chuẩn năm 2010 và 15% năm 2015.

Chương làm rõ sáu năng lực sư phạm cần bồi dưỡng cho giáo viên mầm non: năng lực thiết kế, năng lực quan sát, năng lực tổ chức các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực quản lí nhóm lớp và năng lực tự học. Nội dung bồi dưỡng được phân thành ba nhóm: bồi dưỡng kiến thức (kiến thức cơ bản về chăm sóc – giáo dục mầm non, kiến thức cơ sở chuyên ngành, kiến thức phổ thông về chính trị – xã hội), bồi dưỡng kỹ năng sư phạm và bồi dưỡng thực hiện chuyên đề.

Các hình thức bồi dưỡng được trình bày gồm: bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng nâng trình độ chuẩn, bồi dưỡng tập trung theo kế hoạch của Bộ/Sở/Phòng GD&ĐT, bồi dưỡng tại chỗ và tự bồi dưỡng. Phương pháp bồi dưỡng được phân thành nhóm lý thuyết (thuyết trình, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, tọa đàm, bồi dưỡng trực tuyến), nhóm thực hành (tham quan thực tế, hội thi) và nhóm qua phương tiện thông tin đại chúng.

Lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng được xây dựng trên bốn chức năng: (1) Xây dựng kế hoạch – bao gồm phân tích tình hình, tìm hiểu nhu cầu, xác định đối tượng và nội dung, dự trù kinh phí; (2) Tổ chức, chỉ đạo – thành lập ban chỉ đạo, phân công giáo viên, hỗ trợ trao đổi kinh nghiệm; (3) Kiểm tra, đánh giá – xác định mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra và tổ chức khen thưởng/xử lý; (4) Đảm bảo các điều kiện – trang bị tài liệu, phương tiện, thiết bị và chính sách động viên.

Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên các trường mầm non tại Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Chương mô tả tổng quan hệ thống giáo dục mầm non tại địa bàn nghiên cứu: toàn thành phố có 10 trường mầm non, mẫu giáo với 284 nhóm/lớp và 7.232 trẻ (nhà trẻ: 62 nhóm/905 trẻ; mẫu giáo: 222 lớp/6.327 trẻ). Hệ thống gồm mầm non công lập (4 trường/127 nhóm lớp/3.419 trẻ), bán công (3 trường/28 nhóm lớp/737 trẻ), dân lập (0 trường/14 lớp/471 trẻ) và tư thục (3 trường/115 nhóm lớp/2.605 trẻ).

Về đội ngũ: tổng số 223 giáo viên (69 biên chế, 154 ngoài biên chế); tỉ lệ đạt chuẩn 99,1%, trong đó trên chuẩn đạt 47%; cán bộ quản lí 19 người, 100% đạt chuẩn, trong đó 44% đạt trên chuẩn. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng là 3,74%, thấp hơn mức quy định (4%). Hiện mới đạt 50% số trường có nhân viên y tế học đường; còn thiếu biên chế giáo viên âm nhạc.

Tại 5 trường khảo sát, mẫu nghiên cứu gồm 9 CBQL và 93 GV. Kết quả phân tích mẫu cho thấy:

Chỉ tiêu CBQL Giáo viên
Đạt chuẩn 22,2% 48,4% (Trung cấp)
Trên chuẩn 77,8% 51,6% (CĐ: 10,8%; ĐH: 40,9%)
Thâm niên quản lí dưới 5 năm 55,5% —
Thâm niên GV từ 16–25 năm — 39% (cao nhất)
Thâm niên GV dưới 5 năm — 13% (thấp nhất)

Một điểm đáng chú ý: 100% GV đạt trình độ đại học đều theo học từ xa, không được đào tạo chính quy. Phần lớn CBQL (55,5%) có thâm niên quản lí dưới 5 năm.

Kết quả khảo sát nhận thức cho thấy 77,8% CBQL và 78,5% GV đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm là "rất cần thiết". Không có ý kiến nào đánh giá "không cần thiết". Chỉ 6,5% GV (thuộc nhóm thâm niên trên 25 năm) cho là "ít cần thiết".

Chương phân tích chi tiết thực trạng theo bốn nội dung quản lí: xây dựng kế hoạch bồi dưỡng; tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng; kiểm tra – đánh giá; và đảm bảo điều kiện cho hoạt động bồi dưỡng. Đồng thời xác định các nguyên nhân khách quan (điều kiện kinh tế – xã hội địa phương còn khó khăn, thiếu kinh phí, cơ sở vật chất xuống cấp) và nguyên nhân chủ quan (năng lực quản lí của CBQL còn hạn chế, nhận thức của một bộ phận GV lớn tuổi chưa tích cực tham gia bồi dưỡng) ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí.

Trên cơ sở thực trạng, chương đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non tại Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • 99,1% giáo viên trong hệ thống toàn thành phố đạt trình độ chuẩn, trong đó 47% đạt trên chuẩn; 100% CBQL đạt chuẩn.
  • Tại 5 trường khảo sát, không có giáo viên nào ở mức dưới chuẩn; 40,9% đạt trình độ đại học (dù toàn bộ học từ xa).
  • 77,8% CBQL và 78,5% GV nhận thức mức "rất cần thiết" về hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm, cho thấy sự đồng thuận cao về tầm quan trọng của công tác này.
  • Kế hoạch bồi dưỡng được thực hiện khá thường xuyên, từng bước đạt được mục tiêu bồi dưỡng. Tuy nhiên, mức độ thực hiện và hiệu quả của các nội dung quản lí còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

Giải pháp/kiến nghị tác giả đề xuất:

Tác giả đề xuất các biện pháp cải thiện từ cơ sở xuất phát là thực tiễn địa phương và khung lý luận được hệ thống hóa, tập trung vào: hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng dựa trên phân tích nhu cầu thực tế của giáo viên; tăng cường tổ chức, chỉ đạo theo các hình thức phù hợp với điều kiện trường; đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng theo hướng công khai, khách quan; đảm bảo và cải thiện các điều kiện vật chất, chính sách động viên giáo viên tham gia bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.

Đóng góp so với nghiên cứu trước:

Tác giả xác định đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu riêng về "Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên các trường mầm non tại Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang", lấp khoảng trống mà các nghiên cứu trước — như luận văn của Nguyễn Hữu Lê Huyên (TP. Hồ Chí Minh) hay Đỗ Thị Xuân (Điện Biên) — chưa đề cập đến địa bàn này.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát tại 5/10 trường mầm non, mẫu giáo trên địa bàn Tp. Rạch Giá, do đó kết quả chưa phản ánh đầy đủ toàn bộ hệ thống giáo dục mầm non của tỉnh Kiên Giang hay khu vực đồng bằng Sông Cửu Long. Toàn bộ giáo viên đạt trình độ đại học đều học từ xa, không có giáo viên đào tạo chính quy từ trường sư phạm, đây là đặc thù cần được xem xét kỹ hơn khi đánh giá chất lượng thực sự của đội ngũ. Bên cạnh đó, dựa trên phạm vi nghiên cứu, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang toàn tỉnh Kiên Giang hoặc so sánh liên tỉnh trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long; đồng thời nghiên cứu định lượng có quy mô mẫu lớn hơn, kết hợp theo dõi tác động thực tế của các biện pháp quản lí đã đề xuất sau một chu kỳ triển khai.


Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản lí giáo dục và Giáo dục mầm non có thể tham khảo Chương 1 về hệ thống khái niệm, bốn chức năng quản lí và các văn bản pháp quy liên quan đến bồi dưỡng giáo viên mầm non; đây là phần được biên soạn có hệ thống và trích dẫn nguồn cụ thể.
  • Người làm đề tài khảo sát thực trạng ở bậc mầm non hoặc các địa phương tương đồng (khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, địa bàn kinh tế – xã hội còn khó khăn) có thể tham khảo thiết kế bảng hỏi, cách xử lý số liệu bằng SPSS và thang đánh giá điểm trung bình.
  • Cán bộ quản lí trường mầm non có thể tham khảo phần lý luận về nội dung quản lí bồi dưỡng (xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá, đảm bảo điều kiện) và danh mục các chuyên đề bồi dưỡng được liệt kê trong Chương 1.
  • Người nghiên cứu chính sách giáo viên mầm non có thể sử dụng số liệu thực trạng về tỉ lệ đạt chuẩn, cơ cấu thâm niên và đặc điểm đào tạo của đội ngũ tại Rạch Giá năm 2013 như một điểm mốc so sánh theo thời gian.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao khóa luận chỉ khảo sát 5 trong số 10 trường mầm non tại Tp. Rạch Giá? Tác giả xác định phạm vi nghiên cứu giới hạn ở 5/10 trường mầm non, mẫu giáo trên địa bàn, gồm trường Mầm non Sao Mai, Vành Khuyên, Họa Mi, Mẫu giáo Măng Non và Mỹ Lâm. Đây là phạm vi khả thi trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, cho phép khảo sát đủ sâu với tổng mẫu 9 CBQL và 93 giáo viên.

2. Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên tại 5 trường khảo sát như thế nào? Không có giáo viên nào dưới chuẩn. 45 GV (48,4%) đạt trình độ chuẩn (Trung cấp); 10 GV (10,8%) đạt trình độ Cao đẳng và 38 GV (40,9%) đạt trình độ Đại học. Tuy nhiên, toàn bộ 100% số giáo viên có trình độ đại học đều theo học chương trình đào tạo từ xa, không được đào tạo chính quy từ trường ĐHSP.

3. Vì sao hơn một nửa cán bộ quản lí có thâm niên quản lí dưới 5 năm lại được đánh giá là có ưu điểm? Tác giả nhận định nhóm CBQL này (55,5%) xuất phát từ giáo viên lâu năm, mới được bổ nhiệm nên năng động, nhanh nhạy và tiếp thu đổi mới tốt hơn so với nhóm có thâm niên từ 16–25 năm. Nhóm CBQL lâu năm hơn tuy giàu kinh nghiệm nhưng gặp khó khăn trong tiếp nhận thông tin và đổi mới phương pháp quản lí.

4. Nhận thức của CBQL và giáo viên về sự cần thiết của hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm ở mức nào? 77,8% CBQL đánh giá "rất cần thiết" và 22,2% đánh giá "cần thiết", không có ý kiến "ít cần thiết" hay "không cần thiết". Phía giáo viên: 78,5% cho là "rất cần thiết", 15,1% là "cần thiết", chỉ 6,5% (thuộc nhóm thâm niên trên 25 năm) đánh giá "ít cần thiết" và không có giáo viên nào cho là "không cần thiết".

5. Khóa luận xác định nguyên nhân nào dẫn đến hạn chế trong quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm tại địa phương? Tác giả phân biệt hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân khách quan gồm tình hình kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn của tỉnh Kiên Giang, cơ sở vật chất thiếu thốn và kinh phí hạn chế; nguyên nhân chủ quan gồm năng lực quản lí của đội ngũ CBQL còn hạn chế (phần lớn trưởng thành từ giáo viên, chưa được đào tạo bài bản về quản lí), và một bộ phận giáo viên lớn tuổi chưa tích cực tham gia bồi dưỡng. Ngoài ra, tình trạng mất cân đối biên chế giữa trường công lập và bán công theo Thông tư liên tịch số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV cũng tạo ra áp lực nhân sự ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động bồi dưỡng.


Kết luận

Khóa luận của Trần Thị Thảo (2013) cung cấp bức tranh thực trạng có số liệu cụ thể về công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non tại Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang — địa bàn chưa được nghiên cứu trước đó — thông qua khảo sát 9 CBQL và 93 giáo viên tại 5 trường bằng phương pháp bảng hỏi, phỏng vấn và xử lý SPSS. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù nhận thức về tầm quan trọng của bồi dưỡng là cao (77–78% đánh giá "rất cần thiết"), song hiệu quả thực hiện các nội dung quản lí còn nhiều hạn chế do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Khóa luận đóng góp một hệ thống lý luận được tổng hợp đầy đủ về các khái niệm, chức năng quản lí và cơ sở pháp lý liên quan, đồng thời đề xuất các biện pháp cải thiện mang tính thực tiễn cho địa phương.