CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Cùng với xu thế toàn cầu hoá, phát triển nền kinh tế tri thức đã và đang đặt ra cho ngành giáo dục những yêu cầu mới nhằm đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, của toàn cầu hoá. Các xu đổi mới giáo dục là tất yếu của lịch sử, mà một trong những xu thế quan trọng nhất là xu thế bồi dưỡng, phát triển và khai thác nguồn tài nguyên tri thức vô hạn của con người Nghiên cứu tìm ra các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và việc quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên ở trường THPT là một vấn đề luôn mang tính thời sự và không đơn giản.
Bởi lẽ, công tác quản lý hoạt động dạy học cho mỗi cấp học, bậc học, cho mỗi trường, mỗi địa phương, vùng, miền.là khác nhau. Mặt khác, các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên ở trường THPT phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu khoa học của nhiều ngành, phụ thuộc vào đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý từng giai đoạn.và cả kinh nghiệm cũng như năng lực của nhà quản lý của bộ máy quản lí của nhà trường cụ thể. Do đó việc tổng kết kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học là việc làm cần thiết nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho các nhà quản lý. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lý luận dạy học, lý luận quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng ở các cơ sở GD&ĐT.
Các công trình nghiên cứu này đã được xuất bản thành các sách chuyên đề hoặc được chuyển tải dưới dạng chuyên đề cho cao học QLGD. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả hàng đầu Việt Nam xung quanh vấn đề này như các tác giả: Đặng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Đặng Xuân Hải, Nguyễn Trọng Hậu, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp, Phạm Viết Vượng. Một số hội thảo trong thời gian qua cũng đề cập đến vấn đề nêu trên, điển hình là hội thảo của Khoa Sư Phạm (tiền thân ĐHGD) với tiêu đề “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học (10/2004) hay trong các bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Chính, “Chuẩn và chuẩn hoá trong giáo dục-Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Tham luận Hội thảo “Chuẩn và Chuẩn hoá trong giáo dục - Những vấn đề lí luận và thực tiễn-Hà Nội 27/1/2005 hoặc như bài viết của Hồ Viết Lương (2005), Chuẩn quốc gia về giáo dục phổ thông - thách thức lớn trong lí luận chương trình dạy học của giáo dục hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo chuẩn và chuẩn hoá trong giáo dục - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục.Trong các luận văn thạc sỹ những năm gần đây cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như luận văn của tác giả: Vũ Văn Huy ”Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông Hải An Thành phố Hải Phòng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp”; Đặng Hồng Cường "Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở Trường trung học phổ thông Việt Bắc, tỉnh Lạng Sơn" ; đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên trường THCS Khánh Bình đến năm 2015” của tác giả Nguyễn Long Giao. Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên tiểu học và QL đội ngũ này, đã có một số công trình nghiên cứu như: đề tài: " Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp GVTH" của tác giả Nguyễn Mạnh Tuân, hay đề tài: "Biện pháp quản lý bồi dưỡng GVTH Tỉnh Nam Định đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp" của tác giả Dương Thị Minh Hiền,.
đã cho chúng tôi thêm những kinh nghiệm quý báu trong việc hoàn thiện luận văn của mình. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm 1. Quản lý Biện pháp quản lý 1.
Quản lý Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [45]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [12, tr 9]. Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gốm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Do vậy người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể GV, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình qua sơ đồ sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công cụ Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Phương pháp Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau. Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ… Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý. Tác giả Nguyễn Quốc Chí đã nhấn mạnh vai trò của thông tin trong quản lý: “ không có thông tin không có quản lý ” 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mối liên hệ các chức năng quản lý được thực hiện qua sơ đồ sau Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý 1. Biện pháp quản lý Biện pháp: theo từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành”.
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm giải quyết một vấn đề cụ thể. Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, cùng một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp. Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đề ra. Các biện pháp được đánh giá theo các tiêu chí sau: Tính thừa kế: không làm sáo trộn, hay quá thay đổi cái đã có mà kế thừa có chọn lọc.
Tính phù hợp: biện pháp đưa ra là những biện pháp phù hợp với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Tính khả thi: biện pháp không bị các yếu tố chi phối, nó ràng buộc ở mức độ cao. Tính hiệu quả: biện pháp giải quyết được vấn đề đặt ra và không làm nảy sinh những vấn đề phức tạp hơn. Các yếu tố ràng buộc gồm: quyền lực, văn hóa, đạo đức, tài chính, thời gian, con người và chính sách pháp luật.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năng lực dạy học Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy… .Như vậy có thể định nghĩa năng lực nghề nghiệp như sau: “Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được” ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lại thì năng lực nghề nghiệp nói chung và năng lực dạy học nói riêng được cấu thành bởi các thành tố: Tri thức chuyên môn (tri thức môn học) Kỹ năng hành nghề (kỹ năng sư phạm hay kỹ năng dạy học) Vậy, năng lực dạy học là tổ hợp các phẩm chất của giáo viên bao gồm tri thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của giáo viên trong quá trình dạy học.