Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ CHO GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Kiểm tra, đánh giá giáo dục phổ thông trên thế giới Theo tác giả Vũ Thị Phương Anh (2006), “Kiểm tra đánh giá để phục vụ học tập: Xu hướng mới của thế giới và bài học cho Việt Nam”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của học sinh bậc trung học”, Thành phố Hồ Chí Minh [1; tr.8], Trên thế giới, từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX đã có một cuộc cách mạng về KTĐG với những thay đổi căn bản về triết lí, quan điểm, phương pháp và các hoạt động cụ thể. Những thay đổi trên thể hiện quan điểm mới: coi người học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ hoạt động GD.
Cùng với sự phát triển của khoa học GD, khoa học về KT, ĐG cũng được nghiên cứu, phát triển và xuất hiện một số khái niệm mới. Ba đặc trưng quan trọng của xu hướng mới về KTĐG là: ĐG phát triển, ĐG thực tiễn và ĐG sáng tạo. KT, ĐG áp dụng trong thực tiễn của giáo dục thế giới: * Đánh giá năng lực và đánh giá môn học: Xu hướng ĐG mới của thế giới là ĐG dựa theo năng lực (Competence base assessment), tức là “ĐG khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó”. Việc KT ĐG kết quả học tập hoàn toàn giao cho GV và HS chủ động, phương pháp ĐG được sử dụng đa dạng, sáng tạo và linh hoạt.
ĐG năng lực nhằm giúp GV có thông tin kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động giảng dạy; giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập; giúp GV và nhà trường xác nhận, xếp hạng kết quả học tập. Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh ĐG quá trình bằng các hình thức, phương pháp ĐG không truyền thống như quan sát, phỏng vấn, hồ sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều người cùng tham gia, HS tự ĐG. ĐG kết quả học tập thông qua dự án hoặc nghiên cứu nhóm được chú trọng. Chẳng hạn, ở Hoa Kì, để KT ĐG mức độ tiếp nhận và cảm thụ văn học của HS về một tác phẩm nào đó, GV yêu cầu HS thành lập nhóm để phân 6 tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm đó và có thể lập dự án tham quan bảo tàng của nhà văn.
Qua phân tích của nhóm và qua chuyến tham quan, HS phải viết thu hoạch, trình bày nhóm trước lớp. Với cách này, HS có quyền tự do làm bài theo hiểu biết của mình, trao đổi, tương tác với nhau, tìm hiểu từ thực tế, vận dụng nhiều kiến thức của nhiều môn học khác nhau, hợp tác nghiên cứu có thể đưa ra nhiều nhận định sáng tạo. Đây là hình thức học tập mang tính tích hợp cao, GV và HS cùng tham gia ĐG kết quả của từng nhóm. * Đánh giá về đạo đức và sự tiến bộ của học sinh: Việc ĐG về đạo đức và rèn luyện của HS cũng được coi trọng, nhà trường đưa ra tiêu chí rõ ràng và GV nhận xét trên những tiêu chí đó.
Điều này không chỉ có tác dụng hỗ trợ giúp đỡ HS tiến bộ mà sự phối hợp giữa GV và gia đình trong việc GD HS tốt hơn. Ví dụ, cách nhận xét, ĐG về HS của một trường ở Canada như sau: Sau mỗi học kì, cha mẹ học sinh đều nhận được một bản nhận xét với 9 nội dung chủ yếu sau: (i) Kĩ năng làm việc độc lập; (ii) Năng lực sáng tạo; (iii) Mức độ hoàn thành các bài tập; (iv) Năng lực sử dụng công nghệ thông tin; (v) Khả năng hợp tác với những người xung quanh; (vi) Khả năng giải quyết những xung đột của cá nhân; (vii) Mức độ tham gia các hoạt động tập thể của lớp; (viii) Khả năng giải quyết vấn đề; và (ix) Khả năng biết đặt mục tiêu để hoàn thiện trong tương lai. Tất cả các mục trên, GV chủ nhiệm đều nhận xét điểm mạnh, điểm tốt của HS đã đạt được trong quá trình học tập, rèn luyện ở trường, và trong từng nội dung, nếu HS có hạn chế, GV có nhận xét đi kèm để HS rút kinh nghiệm. * Phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường trong đánh giá học sinh: Sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong việc ĐG HS được các trường coi trọng.
Chẳng hạn, một số trường tiểu học ở Hoa Kì, cuộc họp phụ huynh đầu năm thực sự có ý nghĩa. Trong cuộc họp này, GV chủ nhiệm giới thiệu rất kĩ chương trình học tập trong năm, mục tiêu cuối năm, cách trao đổi giữa bố mẹ và GV, cách chấm điểm bẳng nhận xét O-Outstanding, G-Good, S-Satisfied, N- Need Improvement (xuất sắc, khá, đạt và cần cố gắng). Từ lớp 3 trở đi, O và G rất hạn chế, vì sợ HS và bố mẹ đua nhau “chạy theo điểm”. Nhà trường khuyến khích HS phải biết tự lập ngay từ nhỏ.
Trên tường phòng học là nội quy của lớp, do chính HS viết ra, chúng tự nghĩ 7 ra luật lệ, cách phạt và ký tên ở dưới. Nội quy là Lời thề danh dự của lớp, được treo đến cuối năm học và lời thề mỗi lớp, mỗi khác. Tóm lại, trong hơn 3 thập kỉ qua, KT ĐG đối với GDPT quốc tế đã có những bước tiến rất lớn cả về lí luận và thực tiễn. Thể hiện rõ xu hướng KT ĐG của thế giới là hướng đến ĐG năng lực HS, phương pháp, cách thức ĐG rất đa dạng, sáng tạo và linh hoạt.
Kiểm tra, đánh giá trong hệ thống giáo dục Việt Nam Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Sổ tay PISA, Hà Nội [8, tr.3]: Kiểm tra (KT), đánh giá (ĐG) và xếp loại HS cả một thời gian dài chậm được đổi mới, chủ yếu là giáo viên ra đề KT trắc nghiệm tự luận (TNTL), HS làm bài trên giấy và giáo viên chấm điểm. Việc đánh giá HS thông qua điểm số bài thi mà HS đạt được. Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã triển khai nhiều giải pháp đổi mới về KT, ĐG học sinh như: Đưa thêm trắc nghiệm khách quan (TNKQ) vào kiểm tra HS và thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh đại học; phương pháp ra đề KT theo ma trận kiến thức, công khai các nội dung KT cho HS, việc đánh giá học tập các môn học không chỉ bằng điểm số mà bằng cả nhận xét; KT, ĐG dựa trên chuẩn tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, tăng cường các câu hỏi về thông hiểu. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được chưa cao, Bộ GD&ĐT thay đổi quá nhiều lần, đặc biệt là đánh giá, xếp loại HS.
Cấp tiểu học: Quyết định số 30/2005/QĐ Bộ GD&ĐT ngày 30-09-2005 ban hành Quy định ĐG xếp loại học lực, hạnh kiểm HS tiểu học; Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT (Thông tư 32) ngày 27-10-2009 ban hành Quy định ĐG, xếp loại HS tiểu học. Thông tư 32: Khẳng định việc đổi mới ĐG khá hoàn thiện, thể hiện triết lí, quan điểm rất riêng về cấp học này. Nguyên tắc ĐG xếp loại được nêu trong Thông tư là công khai, công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện. Việc ĐG với HS tiểu học chủ yếu là động viên, khuyến khích cho sự tiến bộ của các em, không gây áp lực cho cả GV và HS.
Sự kết hợp ĐG định lượng (điểm số) và ĐG định tính (nhận xét), kết hợp ĐG của GV với tự ĐG của HS, kết hợp ĐG thường xuyên với ĐG định kì nhằ m mang la ̣i kế t quả ĐG đầ y đủ, toàn diê ̣n, thể hiện tính nhân văn của GD tiểu học. Điểm mới của Thông tư 32 là coi trọng ĐG cuối năm học, vì đặc điểm kiến thức và kĩ 8 năng ở tiểu học cấu trúc theo đường thẳng nên bài KT cuối năm là điều kiện cần và đủ để ĐG khả năng nắm vững kiến thức, kĩ năng của HS ở mỗi lớp. Cấp THCS, THPT: Quyết định 40/2006/QĐ-BGD&ĐT (Quyết định 40) ngày 05-10-2006 ban hành Quy chế ĐG, xếp loại HS THCS, THPT; Thông tư số 51/2008/TT-BGD&ĐT ngày 15-9-2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định 40; Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT (Thông tư 58) ngày 12-12-2011 ban hành Quy định ĐG và xếp loại HS THCS, THPT; Công văn số 8773/BGDĐT- GDTrH ngày 30-12-2010 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn soạn đề KT và một số quyết định, thông tư liên quan đến tuyển sinh THCS, THPT, thi tốt nghiệp THPT… Quyết định 40: Theo quyết định này, ĐG, xếp loại HS có 2 lĩnh vực: (i) ĐG hạnh kiểm của HS phải căn cứ vào biểu hiện cụ thể về thái độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo, với bạn bè và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quả tham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp, của trường và hoạt động xã hội; rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường; và (ii) ĐG, xếp loại học lực: Căn cứ ĐG học lực của HS là hoàn thành chương trình các môn học trong Kế hoạch GD của cấp THCS, THPT, kết quả đạt được ở các bài KT. Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu và Kém.
Hình thức KT, bao gồm KT thường xuyên (miệng, 15 phút), KT định kì (1 tiết, học kì). Việc ĐG học tập được thực hiện bằng cách KT và cho điểm các bài KT, tính điểm trung bình môn học, điểm trung bình các môn học cuối học kì và cuối năm học. Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12-12-2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh THCS, THPT; Quyết định số 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5-10-2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS, THPT [9, tr.8]: Kế thừa Quyết định 40 và Thông tư 51, theo đó, các môn Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật thực hiện nhận xét với 2 bậc: Đạt và Chưa đạt, đồng thời xóa bỏ hệ số khi tính điểm trung bình các môn cuối học kì, cuối năm. Quan điểm của Bộ GD&ĐT cho rằng vai trò các môn học ảnh hưởng đến sự trưởng thành của HS sau này là như nhau, do đó không phân biệt môn chính, môn phụ.
Một số môn học quan trọng như Toán, Văn, Ngoại ngữ thì HS được học với thời lượng nhiều hơn và thường xuyên là môn thi tốt nghiệp THPT. 9 Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn soạn đề KT (2010) [7, tr.