phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính trong quản trị tài chính doanh nghiệp du lịch. Chƣơng 2: Thực trạng phân tích tài chính trong quản trị tài chính các doanh nghiệp du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính trong các doanh nghiệp du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng. 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1.
DOANH NGHIỆP DU LỊCH VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1. Khái quát chung về doanh nghiệp du lịch 1. Khái niệm, phân loại doanh nghiệp du lịch Theo Điều 4, Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [49, tr. Các doanh nghiệp thực hiện chức năng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng của du khách trong một khoảng thời gian nhất định đƣợc gọi là các doanh nghiệp du lịch.
Vậy, doanh nghiệp du lịch có thể đƣợc hiểu là một tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân, kinh doanh các dịch vụ du lịch trên thị trƣờng để đạt đƣợc mục đích tối đa hoá LN. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đã phát triển không ngừng và đƣợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại Việt Nam gia tăng không ngừng về số lƣợng và quy mô hoạt động. Có thể phân loại doanh nghiệp du lịch theo các tiêu thức sau: - Căn cứ vào hình thức sở hữu vốn thì có thể phân chia doanh nghiệp du lịch thành doanh nghiệp du lịch Nhà nƣớc, doanh nghiệp du lịch tƣ nhân, công ty cổ phần du lịch, công ty TNHH du lịch, công ty liên doanh du lịch. - Căn cứ vào quy mô sản xuất kinh doanh thì có thể chia thành doanh nghiệp du lịch có quy mô lớn, doanh nghiệp du lịch có quy mô vừa và nhỏ.
- Căn cứ vào sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp du lịch thì có thể chia thành doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển du lịch, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lƣu trú, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ăn uống, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giải trí, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành. 12 Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tƣơng đối, trong thực tế các doanh nghiệp du lịch có thể hoạt động kinh doanh mang tính chất tổng hợp, kinh doanh đồng thời nhiều dịch vụ du lịch. Vai trò của doanh nghiệp du lịch trong nền kinh tế Cùng với sự phát triển của xã hội thì du lịch là một nhu cầu tất yếu của con ngƣời. Để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của khách du lịch, các doanh nghiệp du lịch đã nghiên cứu phát triển nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn, thân thiện với môi trƣờng nhằm thúc đẩy du lịch phát triển bền vững.
Các doanh nghiệp du lịch đã tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết việc làm cho một số lƣợng lớn lao động, góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế, quảng bá hình ảnh, văn hóa của đất nƣớc đến với bạn bè quốc tế. Tại Việt Nam, du lịch đƣợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp lớn vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nƣớc thông qua việc bán các sản phẩm du lịch và các dịch vụ, sản phẩm đi kèm nhƣ đồ lƣu niệm, đồ thủ công mỹ nghệ,…cho khách du lịch nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, sự phát triển của ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế có liên quan khác phát triển nhƣ ngành giao thông vận tải, ngành bƣu chính viễn thông, ngành tiểu thủ công nghiệp,… 1. Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp du lịch Du lịch là một ngành kinh doanh đặc thù nên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch có những đặc điểm riêng biệt.
Các đặc điểm này có ảnh hƣởng đến công tác quản trị và phân tích tài chính doanh nghiệp du lịch: - Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch chịu ảnh hƣởng lớn của loại hình dịch vụ kinh doanh. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành do nhu cầu về địa điểm du lịch của du khách đa dạng, cả trong và ngoài nƣớc nên hoạt động kinh doanh thƣờng đƣợc triển khai trên một phạm vi địa lý rộng lớn, điều này làm cho việc điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lƣu 13 trú, nghỉ dƣỡng, vui chơi giải trí do sản phẩm du lịch đƣợc sản xuất và tiêu thụ ngay tại địa điểm của doanh nghiệp và các sản phẩm này không thể lƣu kho, dịch chuyển đƣợc nên muốn tiêu thụ sản phẩm du lịch thì cần phải đầu tƣ lớn cho CSVC để thu hút du khách đến với địa điểm của doanh nghiệp. Điều này làm cho tỷ trọng TSCĐ và tỷ lệ định phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lƣu trú, vui chơi giải trí thƣờng cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, do vậy rủi ro kinh doanh của các doanh nghiệp này cũng cao hơn.
- Chu kỳ kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch thƣờng rất ngắn. Chu kỳ này có thể là khoảng thời gian lƣu trú của du khách tại các khách sạn, khoảng thời gian vận chuyển du khách, khoảng thời gian tham quan tại các địa điểm du lịch, hoặc khoảng thời gian tham gia các hoạt động vui chơi giải trí. Trong chu kỳ kinh doanh này các doanh nghiệp du lịch tiến hành sản xuất đồng thời cung cấp ngay sản phẩm du lịch cho du khách và thƣờng nhận đƣợc ngay khoản thanh toán bằng tiền. Chính vì đặc điểm này mà trong doanh nghiệp du lịch, DT và tiền đƣợc tạo ra trong một khoảng thời gian ngắn, vòng quay VLĐ nhanh, luồng tiền vào và luồng tiền ra từ hoạt động kinh doanh liên tục.
Vì vậy, các chỉ tiêu phản ánh số vòng quay VLĐ, khả năng tạo ra tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch thƣờng có xu hƣớng cao. - Hoạt động kinh doanh du lịch mang tính mùa vụ. Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch chủ yếu diễn ra sôi nổi vào mùa khô. Do vậy, vào mùa mƣa các doanh nghiệp lữ hành chủ yếu tổ chức các tour du lịch đƣa khách ra nƣớc ngoài, còn các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lƣu trú và dịch vụ vui chơi giải trí thì hoạt động kinh doanh rất hạn chế.
Điều này làm cho các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch thƣờng cao vào mùa khô và thấp vào mùa mƣa. - Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tạo ra những sản phẩm du lịch mang tính chất tổng hợp, nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt, tồn tại dƣới dạng hữu hình và vô hình, trong đó chủ yếu là các sản phẩm vô hình. 14 Sản phẩm du lịch mang tính tổng hợp, gồm nhiều thành phần tạo thành. Tất cả các bộ phận của sản phẩm du lịch từ việc vận chuyển du khách, dịch vụ lƣu trú, ăn uống đến vui chơi giải trí đều đƣợc thực hiện trong một quy trình khép kín.
Sản phẩm du lịch đƣợc cung cấp cho du khách ở nhiều khâu, diễn ra ở thời gian và không gian khác nhau do vậy DT, CP, giá thành của từng sản phẩm du lịch cũng khác nhau. Chính vì đặc điểm này mà khi phân tích DT, CP, rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp du lịch thì cần phải căn cứ vào đặc điểm riêng của từng sản phẩm du lịch để xây dựng những chỉ tiêu phân tích phù hợp. Sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt, nhu cầu này chỉ phát sinh khi con ngƣời có thu nhập cao, có nhiều thời gian rảnh rỗi. Bên cạnh đó, khách du lịch chỉ lựa chọn du lịch ở những địa điểm có tình hình chính trị - xã hội – y tế ổn định cao.
Chính vì đặc điểm này mà kinh doanh du lịch chịu ảnh hƣởng trực tiếp của sự phát triển kinh tế, sự ổn định chính trị - xã hội – y tế. Sản phẩm du lịch bao gồm các sản phẩm hữu hình và vô hình, trong đó sản phẩm vô hình chiếm một tỷ lệ tƣơng đối lớn, bao gồm các chƣơng trình du lịch, các dịch vụ tham quan, vui chơi giải trí,…Vì các sản phẩm này mang đầy đủ các đặc trƣng cơ bản của hàng hóa dịch vụ là không có tồn kho, không nhận biết đƣợc sản phẩm trƣớc khi tiêu dùng nên trong doanh nghiệp du lịch tỷ trọng hàng tồn kho thƣờng thấp và chất lƣợng của sản phẩm du lịch đƣợc đo lƣờng bằng các chỉ tiêu định tính nhƣ mức độ hài lòng của khách hàng, sự thoải mái của khách hàng khi sử dụng các sản phẩm du lịch. - Hoạt động kinh doanh du lịch phụ thuộc vào nhiều nhân tố không ổn định nhƣ điều kiện về khí hậu, tài nguyên du lịch, điều kiện giao thông,…nên chất lƣợng sản phẩm du lịch thƣờng khó xác định trƣớc và không ổn định. Điều này làm cho các doanh nghiệp du lịch gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì và bảo đảm chất lƣợng của sản phẩm du lịch.
Do vậy, hoạt động kinh doanh du lịch thƣờng có tính rủi ro cao và bản thân doanh nghiệp du lịch rất khó khăn trong việc dự đoán trƣớc các rủi ro và tìm ra các biện pháp phòng ngừa, khắc phục các rủi ro do các nhân tố khách quan gây nên. 15 - Hoạt động kinh doanh du lịch chịu sự ảnh hƣởng lớn của các yếu tố vĩ mô nhƣ sự phát triển kinh tế, điều kiện chính trị, xã hội, y tế, … Điều này làm cho kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch mang tính nhạy cảm cao đối với các yếu tố vĩ mô, chỉ một thay đổi nhỏ trong môi trƣờng vĩ mô cũng sẽ tạo ra sự thay đổi lớn trong kết quả kinh doanh du lich, vì vậy hoạt động kinh doanh du lịch thƣờng mang tính rủi ro cao [28].