Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. CÁC QUAN NIỆM VỀ NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Quan niệm về năng lực Cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được chia làm hai vế: Năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh. Năng lực được hiểu là sức mạnh có thể làm nổi việc.
Từ điển Tiếng Việt thông dụng Nxb giáo dục ấn hành thì năng lực được hiểu là "khả năng làm việc tốt". Đại từ điển Tiếng Việt Nxb Văn hoá thông tin: Hiểu theo hai nghĩa: 1. Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì. Ví dụ: Năng lực tư duy của con người; 2.
Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc. Ví dụ: Có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức. Năng lực là khả năng của con người để thực hiện tốt công việc hay làm việc có hiệu quả cao; làm chủ và hoàn thành nhiệm vụ tại các tình huống thực (hành động); làm chủ và xử lý được các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; xác định và tiên liệu được những xu hướng và thay đổi trong tương lai khi thực hiện các nhiệm vụ để đưa ra được các giải pháp hiệu quả, tránh gây tổn thất. Năng lực là những đặc tính dẫn tới việc thực thi hiệu quả tại một công việc, vai trò hay chức năng.
Năng lực là các kiến thức, kỹ năng hay hành vi cần thiết để thực hiện tốt nhất một công việc. Kiến thức và kỹ năng là cần thiết để 9 thực thi tốt công việc, thái độ là những đặc điểm nổi trội để định hướng việc thực thi tốt nhất công việc. Theo thuật ngữ hành chính, năng lực được định nghĩa là khả năng thực hiện một công việc nào đó. Như vậy, năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định (cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức), năng lực ở mỗi người được hình thành và tổng hợp hài hoà bởi rất nhiều yếu tố, những yếu tố có thể đào tạo được như: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,.
và những yếu tố phải tự rèn, tự tích lũy, đó là cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ khi làm việc, trong đó: + Kiến thức là sự hiểu biết bao gồm về các sự kiện, chứng cứ, số liệu, sự hiểu biết về các phương pháp, lý thuyết,… + Kỹ năng là sự thể hiện các khả năng làm việc, khả năng xử lý, vận dụng các dụng cụ hỗ trợ cho công việc, khả năng về trí tuệ của mỗi cá nhân đó trong công việc, mức độ thành thạo, quen với những loại công việc cụ thể mà người đó thực hiện; + Kinh nghiệm có được ở mỗi người, thông qua cuộc sống thực tế, các tình huống hàng ngày có được từ những thành công hay thất bại. Năng lực là sự kết hợp mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, và có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển. Năng lực là một yếu tố tổng hợp quan trọng dẫn đến thành công và mức độ năng lực cho thấy tỉ lệ thành công trong công việc (tỷ lệ thuận với nhau). Quan niệm về cán bộ, công chức Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, “cán bộ” là những người làm việc trong cơ quan, đoàn thể, đảm nhiệm một công tác lãnh đạo hoặc công tác quản lý, công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định.
Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức có tác động 10 ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “cán bộ, công chức” là những người được tuyển dụng qua thi tuyển và bổ nhiệm chính thức vào một chức vụ trong một ngạch của các cơ quan, công sở hành chính, sự nghiệp của Nhà nước làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có tư cách pháp lý trong khi thi hành công vụ của Nhà nước. Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 28 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2010, đã đưa ra khái niệm như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, cán bộ, công chức năm 2008) [14]. “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên 11 chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với cán bộ, công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, cán bộ, công chức năm 2008) [14].
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; Cán bộ, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”, (Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, cán bộ, công chức năm 2008) [14]. Căn cứ Luật Cán bộ, cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, theo đó: - Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); 12 h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. - Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hoá - xã hội. Như vậy, với kết cấu cán bộ, công chức cấp xã như trên cũng đã thể hiện rõ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong việc quản trị phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (cấp xã) nói riêng và đất nước nói chung.
Do vậy, để hiểu và đánh giá đúng tầm quan trọng của cán bộ, công chức cấp xã là điều rất cần thiết. Từ đó có thể hiểu về cán bộ, công chức cấp xã như sau: Cán bộ, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Công chức cấp xã gồm: Trưởng công an, Chỉ huy trưởng quân sự, Văn phòng - thống kê, Địa chính - nông nghiệp ( đô thị) - xây dựng và môi trường, Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội. Cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.Vì vậy, công chức cấp xã có đặc điểm cơ bản giống với công chức nói chung nhưng do đặc thù hoạt động công vụ nên công chức cấp xã còn có những đặc điểm riêng: 13 Thứ nhất, Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân, sát dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào dân.
Họ là những người gần gũi với dân, hiểu được nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của người dân. Chính nhờ hiểu dân, nắm bắt những phong tục tập quán, tâm lý, truyền thống của nhân dân địa phương do đó họ có điều kiện thuận lợi trong việc thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi công vụ còn có hiện tượng nể nang nặng về tình cảm mà coi nhẹ kỷ cương, pháp luật, chưa thực hiện hết công việc được giao. Thứ hai, cán bộ, công chức cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ, công chức nhà nước.