Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH THÚ Y Ở TỈNH HƯNG YÊN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt động Thú y a) Khái niệm: Theo Pháp Lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH11 đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29/4/2004: “Hoạt động Thú y là công tác QLNN về Thú y và các hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịnh động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; quản lý thuốc Thú y; hành nghề Thú y”. b) Nguyên tắc hoạt động Thú y: - Bảo đảm sự thống nhất trong hoạt động Thú y từ trung ương đến địa phương nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe động vật, tăng cường hiệu quả kinh tế - xã hội, tính bền vững trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sinh thái.
- Thực hiện phòng bệnh là chính, chữa bệnh kịp thời, chống dịch khẩn trương; phát hiện nhanh, chính xác, xử lý triệt để các ổ dịch bê ̣nh đô ̣ng vâ ̣t, nguồn lây dịch bệnh đô ̣ng vâ ̣t; ngăn chặn kịp thời sự lây nhiễm, lây lan của đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật. - Phòng, chống dịch bệnh động vật trước hết là trách nhiệm của chủ vật nuôi, chủ cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; cơ quan QLNN có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn, triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bênh ̣ đô ̣ng vâ ̣t kịp thời, hiệu quả. 6 - Bảo đảm thuận lợi trong giao dịch thương mại đối với động vật, sản phẩm động vật; hài hòa lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. - Áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, kết hợp khoa học và công nghệ hiện đại với kinh nghiệm truyền thống của nhân dân trong phòng, chống dịch bệnh, chữa bệnh động vật.
c) Vai trò của hoạt động Thú y: - Hoạt động thú y cùng với hoạt động chăn nuôi tạo ra sản phẩm động vật. Sản phẩm động vật là các loại sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, bao gồm: + Sản phẩm động vật trên cạn là thịt, trứng, sữa, mật ong, sáp ong, sữa ong chúa, tinh dịch, phôi động vật, huyết, nội tạng, da, lông, xương, sừng, ngà, móng và các sản phẩm khác có nguồn gốc từ động vật trên cạn. + Sản phẩm động vật thủy sản là động vật thủy sản đã qua sơ chế hoặc chế biến ở dạng nguyên con; phôi, trứng, tinh dịch và các sản phẩm khác có nguồn gốc từ động vật thủy sản. + Sản phẩm động vật trên cạn là thịt, trứng, sữa, mật ong, sáp ong, sữa ong chúa, tinh dịch, phôi động vật, huyết, nội tạng, da, lông, xương, sừng, ngà, móng và các sản phẩm khác có nguồn gốc từ động vật trên cạn; - Hoạt động Thú y đảm bảo an toàn không có mầm bệnh vi sinh vật và ký sinh trùng, không lưu tồn các chất độc hại như kháng sinh, hormon và các chất độc hại khác.
Thời gian qua dịch bệnh gia súc, gia cầm xảy ra rất nghiêm trọng và phức tạp; đặc biệt các bệnh quan trọng như cúm gia cầm H5N1 (AI), cúm A/H1N1 có nguồn gốc từ lợn, gần đây là cúm A/H7N9 cũng có nguồn gốc từ gia cầm; bệnh tai xanh (PRRS); bệnh lở mồm long móng (FMD).; tình hình buôn lậu động vật qua biên giới, số người đi du lịch có thể mang theo dịch bệnh vào VN đang tăng lên; đặc biệt từ các nước trong khu vực có nhiều dịch bệnh nguy hiểm… Nhiều chất cấm, chất kích thích sinh trưởng, 7 chất gây ung thư có thể được sử dụng trong chăn nuôi với mục đích lợi nhuận được phát hiện rất nhiều từ một vài nước quanh khu vực. Do vậy phải ngăn chặn có hiệu quả thực phẩm từ các nước vào Việt Nam khi hàng rào thuế quan bị bãi bỏ bởi các hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương, đồng thời cũng phải tăng cường khả năng kiểm soát thực phẩm sản xuất trong nước cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Hiệp định Kiểm dịch động thực vật (SPS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là hiệp định quy định những biện pháp kiểm dịch mà các nước tham gia buộc phải tuân thủ. Các quy chuẩn, tiêu chuẩn ban hành cho sản phẩm động vật đều quy định bởi Tổ chức tiêu chuẩn hóa (Codex) của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và Y tế Thế giới (WHO).
Quy định các nước buôn bán thực phẩm phải tham khảo và áp dụng. Nhiệm vụ thực hiện các quy định trên thuộc ngành Thú y và hệ thống thú y VN cần phải tuân thủ thông lệ quốc tế trong xu thế hội nhập sâu rộng vào hệ thống kinh tế quốc tế. - Đảm bảo an toàn sức khỏe cho đàn gia súc và người chăn nuôi, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Ngành Thú y được xem là ngành bảo vệ sức khỏe, không những cho con vật mà còn cho con người.
Ngành Thú y giải quyết các vấn đề về thực phẩm từ gốc, trong khi đó ngành Y tế giải quyết vấn đề sau khi tiêu dùng thực phẩm mà phát sinh bệnh như ngộ độc thực phẩm. Từ trang trại đến khi ăn vào là ngành Thú y có trách nhiệm. Ngành Y tế chủ yếu về phòng, chữa bệnh. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tôn vinh Thú y cộng đồng là một bộ phận của Y tế cộng đồng.
Thú y cộng đồng chăm lo về thể chất và tinh thần cho con người thông qua toàn thể các hoạt động của ngành Thú y. Một số tổ chức quốc tế mà Thú y VN là thành viên như Tổ chức Thú y thế giới (OIE) là tổ chức quốc tế có quyền lực trong việc ban bố danh 8 mục các dịch bệnh được phép hay không được phép buôn bán, giết thịt và sử dụng phụ phẩm cho chăn nuôi, quản lý dịch bệnh toàn cầu. - Hoạt động Thú y giữ cho môi trường giảm bớt ô nhiễm từ chất thải chăn nuôi. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2014 đàn lợn nước ta có khoản 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con.
Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về số lượng và sản lượng. Từ số đầu gia súc, gia cầm đó có quy đổi được lượng chất thải rắn (phân chất độn chuồng, các loại thức ăn thừa hoặc rơi vãi) đàn gia súc, gia cầm của thải ra khoảng trên 76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn). Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kẽm, đồng, chì, Asen, Niken (kim loại nặng)… và các vi sinh vật gây hại khác không những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì đất, mặt nước mà cả nguồn nước ngầm…. Hệ thống Thú y a) Khái niệm: “Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Từ đó, chúng tôi đưa ra định nghĩa: “Hệ thống Thú y là mối quan hệ các tổ chức Thú y với nhau, là sự kết nối toàn ngành Thú y xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh động vật, thúc đẩy sự phát triển bền vững ngành chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế”. b) Phân loại: * Phân loại hệ thống Thú y theo hệ thống tổ chức, gồm: - Trung ương. - Địa phương: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. 9 * Phân loại hệ thống Thú y theo chức năng, nhiệm vụ, gồm: - Phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh cho động vật.
- Kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ; kiểm tra vệ sinh Thú y. - Quản lý thuốc Thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong Thú y. - Thanh tra Thú y. c) Nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống Thú y: - Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành Thú y đồng bộ và phù hợp với luật pháp và quy định quốc tế.
- Kiện toàn hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở theo hướng gọn nhẹ, thông suốt, đảm bảo có hiệu quả hoạt động của cả hệ thống đáp ứng nhanh nhậy nhu cầu dự báo, phòng trừ dịch bệnh, an toàn dịch bệnh góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển chăn nuôi một cách bền vững. - Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn: + Về công tác phòng chống dịch: Từng bước hiện đại hoá hệ thống quản lý dữ liệu, thông tin, dự báo dịch bệnh, xây dựng bản đồ dịch tễ; tăng cường công tác quản lý, giám sát dịch bệnh, đánh giá rủi ro trên phạm vi cả nước. Xây dựng, thực hiện các chương trình khống chế, thanh toán một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh lây sang người như bệnh cúm gia cầm, bệnh lỡ mồm long móng, bệnh dại, nhiệt thán, dịch tả lợn, niu cát xơn, bò điên; phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh, trước mắt an toàn dịch bệnh lở mồm long móng, dịch tả lợn do OIE công nhận; tăng cường năng lực chuẩn đoán bệnh. + Về công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và vệ sinh thú y: Củng cố, kiện toàn và tăng cường năng lực hệ thống kiểm dịch động vật xuất, nhập khẩu; kiểm dịch vận chuyển trong nước.
Xây dựng quy hoạch hệ thống giết mổ tập trung, hướng dẫn và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư theo 10 quy hoạch được duyệt; tăng cường công tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với động vật và sản phẩm động vật (thịt, trứng, sữa, mật ong,.); xử lý các trường hợp vi phạm theo luật định. + Về công tác quản lý thuốc thú y và thanh tra thú y: Quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc thú y; ban hành tiêu chuẩn chất lượng thuốc thú y; thực hiện việc kiểm tra, kiểm nghiệm, khảo nghiệm thuốc thú y nhập khẩu, sản xuất trong nước, xử lý các trường hợp vi phạm theo luật định.