Chương 1. Cơ sở lý thuyết về QLNN đối với HĐDL. Đánh giá thực trạng QLNN đối với các HĐDL tại vùng lõi khu DTSQ thế giới Cù Lao Chàm - Hội An. Giải pháp và lộ trình nâng cao năng lực quản lý các HĐDL tại vùng lõi khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An giai đoạn 2023 – 2025, định hướng đến 2030.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1. Cơ sở lý thuyết về hoạt động du lịch và năng lực quản lý nhà nước về hoạt động du lịch 1. Hoạt động du lịch và quản lý nhà nước về hoạt động du lịch 1. Khái niệm du lịch Lĩnh vực du lịch là một phần không thể thiếu trong lịch sử phát triển của loài người và phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Để có một định nghĩa cho riêng nó sao cho nó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý luận và thực tiễn là rất khó khăn do tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau và dưới các góc độ khác nhau về du lịch, do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu khác nhau về du lịch ở các nước khác nhau và do tính chất đặc thù của HĐDL. Hiện nay, có nhiều khái niệm về du lịch với nhiều cách tiếp cận đã được đưa ra dưới những góc độ khác nhau tùy vào cách xem xét du lịch trong từng giai đoạn phát triển. Một số khái niệm về du lịch của các tác giả trên thế giới thường được đề cập đến bao gồm: "Du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân". Đây là khái niệm đề cập đến mục đích chính của cá nhân khi đi du lịch là "đi chơi".
"Du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người". Khái niệm này đã nói lên được ý nghĩa tích của du lịch là tăng cường sự hiểu biết của con người về không gian văn hóa. Trên thế giới, theo các khái niệm của Robert W. Goeldne, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ các tác động qua lại giữa chính quyền và cộng đồng, khách du lịch, nhà cung ứng trong quá trình đón tiếp và thu hút khách DL.
Đây là khái niệm mang tính chất tổng hợp, chỉ ra 4 thành phần cùng tham gia và tạo nên HĐDL gồm: khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách du lịch, chính quyền sở tại, cộng đồng dân cư địa phương. Ở nước ta, các tác giả xem xét trên 2 khía cạnh dưới góc độ là cầu du lịch và cung du lịch như sau: 7 Một là: Du lịch là một dạng tham quan, nghỉ dưỡng của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thưởng thức danh lam, thắng cảnh, di tích văn hóa lịch sử, các công trình văn hóa nghệ thuật. Hai là: DL là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: mở rộng sự hiểu biết về thiên nhiên, con người, truyền thống lịch sử văn hóa và dân tộc, qua đó làm tăng thêm tình yêu với đất nước và con người; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả cao; có thể được xem là một hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Tác giả chọn định nghĩa về du lịch của Khoa du lịch và khách sạn (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) để có cái nhìn đầy đủ về góc độ kinh tế và xã hội của du lịch: Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch.
Đây là định nghĩa đưa ra trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của HĐDL trên thế giới và Việt Nam trong thời gian qua. HĐDL trên thực tế đã đem lại lợi ích về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho nhiều nước. Khái niệm hoạt động du lịch Như các quan điểm nêu trên, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm nhiều hoạt động từ dịch vụ ăn uống, phòng nghỉ, đồ lưu niệm, hàng hóa, các hoạt động vui chơi giải trí… các dịch vụ này được gọi là HĐDL có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Qua đó, HĐDL mang lại những lợi ý to lớn như: - HĐDL giúp phục hồi sức khỏe, hạn chế bệnh tật, nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và tăng năng suất lao động của con người.
- HĐDL giúp cho mọi người dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các quốc gia, các dân tộc, quản bá nền văn hóa địa phương, phục hồi, bảo tồn ngành nghề truyền thống, bảo vệ môi trường sinh thái. Từ đó tiếp thu những yếu tố văn minh của nhân loại để nâng cao trình độ dân trí, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình 8 thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nhân dân. Tạo nên sự phát triển cân đối, toàn diện về nhân cách của một cá nhân trong toàn xã hội. - HĐDL giúp phục hồi nhanh và làm tăng khả năng lao động, đây là nhân tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất và nâng cao hiệu quả lao động.
Đồng thời tạo ra nhiều việc góp phần giải quyết vấn đề lao động, và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. - HĐDL còn giúp nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn, khai thác bền vững các di sản văn hóa của dân tộc, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường thiên nhiên xã hội. Như vậy, HĐDL được tiếp cận theo 2 hình thức gồm: các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp cho du lịch. Ở một khía cạnh nhất định, HĐDL có thể được xem đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch.
Ở nước ta khái niệm HĐDL theo Luật du lịch năm 2017 như sau: “HĐDL là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch.” Các chủ thể tham gia HĐDL bao gồm: khách du lịch; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Khái niệm về quản lý nhà nước hoạt động du lịch Như đã nói ở trên, HĐDL được tiếp cận theo 2 hình thức gồm: các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp cho du lịch. Ở một khía cạnh nhất định, HĐDL có thể được xem đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch. QLNN về du lịch là làm chức năng quản lý vĩ mô về DL, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng KD cho các doanh nghiệp DL.
Việc quản lý nhà nước đó thực hiện bằng các công cụ quản lý nhà nước vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau tham gia vào phát triển hoạt động du lịch. QLNN về HDDL là sự tác động bằng quyền lực của Nhà nước đối với ngành du lịch nói chung và các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch góp phần đẩy mạnh kinh tế mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy trì và phát triển văn hóa, bảo 9 hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch. Khái niệm về vùng lõi khu dự trữ sinh quyển thế giới Vùng Lõi là khu vực dành riêng cho bảo tồn đa dạng sinh học, giám sát các hệ sinh thái, cho phép các hoạt động nghiên cứu, giáo dục có thể triển khai không ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của khu vực. Vùng lõi thực hiện việc bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái tự nhiên còn tương đối nguyên vẹn, bảo tồn các lòi đặc hữu, nguồn gen quý hiếm của Khu DTSQ.
Nguyên tắc quản lý khu dự trữ sinh quyển thế giới Khu DTSQ được quản lý theo các nguyên tắc với 12 nội dung cụ thể: - Các mục tiêu quản lý tài nguyên đất, nước và tài nguyên sống là sự lựa chọn mang tính xã hội. - Quản lý HST phải được phân quyền đến cấp thích hợp thấp nhất. - Các nhà quản lý HST phải xem xét hiệu quả thực tế hoặc tiềm năng các hoạt động của mình đối với các hệ sinh thái lân cận và các hệ sinh thái khác. - Quản lý HST phải được vận hành thường xuyên trong một bối cảnh kinh tế cụ thể để thông qua đó nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được là: Giảm bớt những khiếm khuyết của thị trường có ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học, khuyến khích để thúc đẩy việc sử dụng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học và kế hoạch hóa một cách khả thi các chi phí và các lợi ích của hệ sinh thái đã xác lập.
- Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng của HST phải là mục tiêu ưu tiên của phương thức tiếp cận HST. - Các HST phải được quản lý trong các giới hạn về chức năng của chúng. - Việc tiếp cận HST phải được thực hiện theo các quy mô thích hợp về mặt không gian và thời gian. - Các mục tiêu quản lý HST phải có tầm nhìn dài hạn bởi các kết quả chỉ có thể diễn ra từ từ do đặc trưng của các quá trình sinh thái và do sự thay đổi quy mô không gian theo thời gian.
- Việc quản lý HST phải công nhận sự thay đổi là điều không thể tránh 10 khỏi. - Phương thức tiếp cận hệ sinh thái đòi hỏi giữa bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học phải tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và hợp thành một hệ thống thống nhất. - Quản lý tiếp cận HST cần phải xem xét tất cả các nguồn thông tin có liên quan bao gồm các kiến thức khoa học, kiến thức của cư dân bản địa, yêu cầu đổi mới và thực tiễn địa phương. - Quản lý tiếp cận HST cần sự tham gia của tất cả các lực lượng, các lĩnh vực xã hội và các ngành khoa học tương ứng.
Năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch 1.1 Khái niệm về năng lực quản lý nhà nước - Năng lực quản lý nhà nước là khả năng của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước một cách hiệu quả.