phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục; đề án được kết cấu gồm 03 phần như sau: Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn địa phương cấp huyện. Phần 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Phần 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. 8 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP HUYỆN 1.
Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về du lịch 1. Tổng quan về du lịch 1. Du lịch Ngày nay, du lịch thực sự đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, là yếu tố quan trọng trong bức tranh toàn cảnh về phát triển kinh tế. Sự quan trọng của ngành du lịch không chỉ được chứng minh tại các quốc gia phát triển mà còn ở những quốc gia đang phát triển, bao gồm Việt Nam.
Vì vậy, để hiểu rõ hơn về du lịch, cần xem xét khái niệm này từ nhiều khía cạnh, đặc biệt là dựa trên quan điểm tiếp cận và góc độ nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau. Trong ba ngôn ngữ phổ biến: tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Nga, thuật ngữ "du lịch" được sử dụng một cách sáng tạo để thể hiện được ý nghĩa, sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ của mỗi quốc gia. Cụ thể, trong tiếng Anh, chúng ta sử dụng từ "Tourism", trong tiếng Pháp là "Le Tourisme". Mỗi từ ngữ này mang một cách tiếp cận và ý nghĩa riêng, nhưng đều có liên quan đến sự vận động, di chuyển tới các khu vực, vùng địa lý khác nhau để khám phá và chinh phục không gian.
Theo Michael Coltman, nhà kinh tế học người Mỹ nghiên cứu về mối quan hệ giữa du lịch và các bên liên quan, định hướng cho sự phát triển lâu dài đã khẳng định: “Du lịch là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch.” Tổng kết các quan điểm từ trước đến nay dựa trên góc nhìn toàn diện và phù hợp với thực tế phát triển của ngành kinh tế du lịch, tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006) đã đưa ra định nghĩa sâu sắc về du lịch như sau: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước (địa phương) làm du lịch và bản thân doanh nghiệp" (Nguyễn Văn Đính, 2006, trang 19). 9 Luật Du Lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp lần thứ 3 thông qua ngày 19/6/2017 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (Quốc hội, 2017, trang 9). Như vậy, có thể thấy rằng, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép.
Một mặt mang ý nghĩa thông thường là việc đi lại, di chuyển của con người với mục đích tham quan, trải nghiệm, nghỉ ngơi,…. Mặt khác, du lịch còn được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế (sản xuất và tiêu thụ), là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch. Mối quan hệ này tạo nên một mô hình tương tác đa dạng, mang nét đặc trưng cho từng địa phương, qua đó tạo cơ hội phát triển bền vững cho nền kinh tế và xã hội. Đặc trưng của hoạt động du lịch Dựa trên nghiên cứu các khái niệm, định nghĩa về du lịch và ứng dụng vào thực tiễn xu thế phát triển của ngành du lịch trong nước và quốc tế, tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006) đã đưa ra 3 đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch như sau: - Du lịch là một hoạt động kinh tế mang tính tổng hợp đa ngành và xã hội hóa cao.
Hoạt động du lịch không chỉ liên quan đến nhu cầu nghỉ ngơi mà còn đòi hỏi sự kết nối với các hoạt động kinh tế tương ứng phục vụ cho mục đích đó. Bên cạnh hoạt động tham quan, giải trí, nghỉ ngơi,… khách du lịch còn có nhiều nhu cầu như: ăn, ngủ, mua sắm hàng hóa và sử dụng các dịch vụ khác. Vì vậy, để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu này, du lịch cần sự hỗ trợ, phối hợp của nhiều ngành như: sản xuất, kinh doanh, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông. Sự tương tác giữa các lĩnh vực này đã kéo theo nhiều tác động kinh tế xã hội khác, đòi hỏi sự đồng bộ và phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và lĩnh vực.
Du lịch là một hoạt động mang tính xã hội, phát sinh, phát triển tình cảm đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Thông qua các hoạt động du lịch, con người không chỉ được trải nghiệm sự thay đổi về môi 10 trường sống mà còn có được những trải nghiệm, khám phá điều mới mẻ, được giải đáp những thắc mắc và ham muốn hiểu biết. Điều này giúp du khách hình thành định hướng lối sống chuẩn mực, sáng tạo, và xây dựng một kế hoạch giúp bảo vệ môi trường và duy trì các giá trị thiên nhiên. Du lịch là một hoạt động mang nội dung văn hóa, một cách mở rộng không gian văn hoá của du khách trên nhiều mặt: thiên nhiên, lịch sử, văn hóa qua các thời đại, của từng dân tộc.
Đặc trưng này góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của du khách. Trong thời gian đi du lịch, thông qua việc tiếp xúc với dân cư địa phương, văn hóa của khách du lịch và người bản địa sẽ được trao đổi và nâng cao, giúp rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc. Hoạt động du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống của dân tộc. Do đặc trưng này mà các hoạt động du lịch đã hỗ trợ đắc lực cho việc bảo tồn các di tích lịch sử, khảo cổ đang có nguy cơ bị lụi tàn như: các di sản kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa, đồ thủ công, lễ hội, trang phục, lối sống truyền thống; phục hưng các nền văn hóa bản xứ, các làng nghề thủ công mĩ nghệ….
Các loại hình du lịch Các loại hình du lịch có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí đa dạng tùy thuộc vào quan điểm của các nhóm nghiên cứu. Theo Nguyễn Bá Lâm (2007), “Giáo trình Tổng quan về du lịch và phát triển bền vững” đã áp dụng 10 tiêu chí cơ bản dưới đây để phân nhóm các loại hình du lịch: Căn cứ vào môi trường tài nguyên: du lịch thiên nhiên; du lịch văn hóa. Căn cứ vào mục đích chuyến đi: du lịch tham quan; du lịch giải trí; du lịch nghỉ dưỡng; du lịch khám phá; du lịch thể thao; du lịch lễ hội; du lịch tôn giáo; du lịch nghiên cứu; du lịch hội nghi; du lịch chữa bệnh; du lịch thăm thân; du lịch kinh doanh. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi: du lịch quốc tế; du lịch nội địa.
Căn cứ vào vị trí địa lý của điểm du lịch: du lịch miền biển, du lịch miền núi; du lịch thành phố; du lịch thôn quê. Căn cứ vào phương tiện di chuyển: du lịch xe đạp; du lịch ô tô; du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy; du lịch bằng thuyền, ghe; du lịch máy bay. 11 Căn cứ vào loại hình lưu trú: khách sạn; nhà trọ; homestay; Làng du lịch, Camping; Bungaloue. Căn cứ vào lửa tuổi du lịch: du lịch thiếu niên; du lịch thanh niên; du lịch trung niên; du lịch người cao tuổi.
Căn cứ vào thời gian chuyến đi: du lịch dài ngày; du lịch ngắn ngày. Căn cứ vào hình thức tổ chức: du lịch tập thể; du lịch cá thể; du lịch gia đình. Căn cứ vào phương thức hợp đồng: du lịch trọn gói; du lịch từng phần. Quản lý nhà nước về du lịch 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch So với định nghĩa chung về du lịch, khái niệm QLNN về du lịch theo quan điểm của các tác giả có sự hạn chế hơn, đặc biệt là trong Luật Du lịch 2017 không cung cấp một định nghĩa rõ ràng giải thích nội hàm về nội dung của khái niệm này. Trong phạm vi giới hạn của bài viết, tác giả đã nhiên cứu, tổng hợp một số nhận xét của các tác giả trước như sau: Theo tác giả Phạm Hồng Long có đưa ra khái niệm trong bài báo “Quản lý Nhà nước đố i với hoa ̣t đô ̣ng du lich”: ̣ “Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội do Nhà nước đặt ra.” Trong giáo trình Kinh tế du lịch của tác giả Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa (2006) cũng đã đưa ra nhận xét: “Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động bằng quyền lực của Nhà nước đối với ngành du lịch nói chung và các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch, góp phần đẩy mạnh kinh tế mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy trì và phát triển văn hóa, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch/ QLNN về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước.