CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1.1 Khái quát chung về dự án đầu tư xây dựng Trong khoảng một thập niên trở lại đây, cùng với xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng. Việt Nam là một nước đang phát triển chính vì thế đà phát triển về lĩnh vực đầu tư xây dựng tăng nhanh, yêu cầu về năng lực thực hiện dự án ngày càng chặt chẽ hướng tới đảm bảo mọi yêu cầu đặt ra khi thực hiện dự án. Có nhiều định nghĩa về dự án. Tác giả xin được trích dẫn một vài định nghĩa như sau : Theo Luật xây dựng số 50/2014/QH13, do Quốc hội ban hành ngày 18/6/2014 và là bộ luật hiện hành đối với ngành xây dựng hiện nay [1].
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Theo bài giảng « Quản lý dự án xây dựng nâng cao » của PGS.TS Nguyễn Bá Uân giảng viên của trường Đại học Thủy Lợi: [2] Có nhiều cách hiểu khác nhau về dự án, nhưng các dự án có nhiều đặc điểm chung như : Các dự án đều được thực hiện bởi con người ; Bị ràng buộc bời nguồn lực hạn chế : con người, tài nguyên ; Được hoạch định, được thực iện và được kiểm soát. Như vậy có thể biểu diễn dự án bằng công thức sau DỰ ÁN = KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜI GIAN SẢN PHẨM DUY NHẤT 3 Công tác quản lý đầu tư xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan.
Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng, và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ở nước ta trong thời gian tới. Thực tiễn đó đã thúc đẩy ra đời một “nghề” mới mang tính chuyên nghiệp thực sự: Quản lý dự án, một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp từ các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động tư vấn. Quản lý dự án là một quá trình phức tạp, bao gồm công tác hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả những khía cạnh của một dự án và kích thích mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt. Nói một cách khác, Quản lý dự án (QLDA) là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của Dự án nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý dự án : Vòng đời của dự án Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng. Thông thường, vòng đời của dự án gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc dự án Các giai đoạn quản lý dự án Trình tự đầu tư xây dựng theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 của Luật Xây dựng năm 2014 được quy định cụ thể như sau: [1] - Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, xác định chủ đầu tư dự án; Lấy ý kiến về quy hoạch, thỏa thuận về qui hoạch kiến trúc, thỏa thuận đấu nối, sử dụng với công trình hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc…); Tổ chức đo đạc, điều tra, khảo sát thu thập số liệu phục vụ cho việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật cho dự án; 4 Xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật cho dự án; Tổ chức thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư. - Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); Chuẩn bị mặt bằng xây dựng: bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, rà phá bom mìn (nếu có); Khảo sát xây dựng (nếu có); Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế 2 hoặc 3 bước); Cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình phải có giấy phép xây dựng); Tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; Thi công xây dựng công trình; Giám sát thi công xây dựng; Tạm ứng, nghiệm thu thanh toán khối lượng hoàn thành - Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng: Tùy điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư quyết định trình tự thực hiện tuần tự hoặc kết hợp đồng thời đối với các hạng mục công việc quy định trên. Trong giai đoạn này gồm có các bước như sau: Bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; Hướng dẫn sử dụng công trình, vận hành, chạy thử; Bảo hành công trình; Quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành.
5 Quá trình đầu tư xây dựng được mô hình tổng quát ở hình 1.1 như sau: Các công việc sau khi có quyết Quyết toán Lập, thẩm định và phê duyệt: định đầu tư từ đền bù giải phóng dự án hoàn + Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi mặt bằng, khảo sát, thiết kế; xin thành, bảo đầu tư xây dựng (nếu có) phép xây dựng, lựa chọn nhà hành công + Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu thầu, nghiệm thu thanh toán khối trình xây tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế lượng xây dựng và hợp đồng, dựng. nghiệm thu bàn giao. Chuẩn bị dự án Thực hiện dự án Kết thúc XD, đưa công trình của dự án vào sử dụng Hình 1.1: Quá trình đầu tư xây dựng một dự án 1.2 Tình hình chung về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ở Việt Nam.1 Công tác quản lý chất lượng Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững. Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân.
Đối với công trình xây dựng việc đảm bảo chất lượng được đặt lên hàng đầu, nhà thầu phải có trách nhiệm đối với công việc của mình, tuân thủ theo các quy định về chất lượng công trình, CĐT và các đơn vị tham gia xây dựng công trình phối hợp với nhau để có dược sản phẩm tốt nhất về chất lượng. Kết quả đạt được 6 Trong những năm trở lại đây công tác quản lý chất lượng công trình có nhiều chuyển biến tích cực. Bộ xây dựng đã tích cực triển khai công tác hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về chất lượng công trình xây dựng từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên vật liệu, đến nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình. Qua đó, kịp thời ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm trong hoạt động xây dựng.
Kiểm soát chặt chẽ về năng lực của các đơn vị tư vấn, đơn vị xây lắp từ bước cấp chứng chỉ hoạt động, chứng chỉ hành nghề để nâng cao chất lượng khảo sát, thiết kế đến quản lý, thi công xây dựng công trình. Đồng thời, xây dựng quy chế quản lý, sử dụng công trình sau đầu tư. Tồn tại, hạn chế, khó khăn Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều tồn tại, hạn chế, khó khăn sau: Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh, lên đến hàng nghìn đơn vị. Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát thiết kế năng lực trình độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ.
Công tác thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng ở một số địa phương còn chậm, nhất là quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, dẫn đến hạn chế tốc độ đầu tư. Chất lượng một số đồ án quy hoạch còn hạn chế, công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch còn nhiều bất cập. Lực lượng cán bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít được bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới. Việc kiểm tra hồ sơ trúng thầu trước khi chấp thuận cho nhà thầu vào thi công chưa được quan tâm như: Nhân sự và Ban điều hành, máy móc thiết bị, phòng thí nghiệm… Việc kiểm tra hướng dẫn nhà thầu làm thủ tục nghiệm thu khối lượng hoàn thành, 7 nghiệm thu giai đoạn, nghiệm thu thanh toán còn chưa tốt.
Việc kiểm tra chất lượng vật liệu đầu vào còn qua loa, châm trước. Chất lượng một số công trình còn thấp, tình trạng chậm tiến độ thi công, nợ đọng kéo dài trong đầu tư xây dựng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý. Nhiều đơn vị sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân tự do, công nhân thời vụ, việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ rất sơ sài.
Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều hạn chế.