CHƯƠNG 1 C ơ SỞ L Ý LU Ậ N VÈ N Ă NG L ự c Q U Ả N LÝ C Ủ A Đ Ộ I N G Ũ CÁN BỘ TẠ I M Ộ T TỎ CH ỨC 1. Quản lý và chức năng quản lý Quản lý là một phạm trù có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài và từng bước được hoàn thiện. Theo lý thuyết cổ điển, quản lý được hiểu như là một hệ thống những tác động của chủ thể là các tiểu chủ, chủ xưởng đối với những người lao động thông qua các công cụ chủ yếu là hành chính, roi vọt. Chỉ từ những năm 50 của thế kỷ 19, khái niệm quản lý mới được hiểu một cách đầy đủ theo các trường phái khoa học quản lý (Principles of Scientific Management), mà trước tiên là từ “lý thuyết quản lý một cách khoa học” của Frederic Winslow Taylor và các cộng sự mà sau này người ta quen gọi là lý thuyết Taylor, hoặc chủ nghĩa Taylor.
Theo quan điểm của Taylor, nhiệm vụ của nhà quản lý là phải xác định cho được phương pháp làm việc cũng như tiêu chuẩn của công việc, đồng thời cũng phải cung cấp cho công nhân những sự kích thích làm việc. Điểm khác biệt cơ bản những quan điểm quản lý cổ điển là việc tác động của chủ xưởng đối với công nhân được thực hiện thông qua việc xác định rõ nhiệm vụ của học, giao ước nhiệm vụ rõ ràng cho công nhân và có được các công cụ kích thích làm việc. Theo quan điểm của Taylor, có một số diểm cần nhấn mạnh là: Thứ nhất, có những khám phá khoa học những nhân tố cơ bản trong công việc của con người thay cho những kinh nghiệm; Thứ hai, chức năng tự quyết định việc chọn phương pháp làm việc của công nhân được thay bằng chức năng hoạch định của nhà quản trị; Thứ ba, sự lựa chọn huấn luyện nhân viên và phát triển tinh thần họp tác đã thay thế công cụ hành chính tác động đến nỗ lực cá nhân của riêng người lao động. Sau một quá trình phát triển khá dài, ngày nay khái niệm quản lý đã được hoàn thiện với những lý thuyết quản trị hành chính của Bà Liliam Gibreth (1875-1972) và ông Frank Gilbreth (1986 - 1924); đến trường phái lý thuyết tâm lý xã hội trong quản lý của Elton Mayo (1880-1949) và Donglas Gregor (1909 - 1964) và của Abram Maslow (1908- 1970).
Cùng với các học giả theo trường phái Taylor, các học giả theo trường phái quản trị hành chính tiếp tục hướng hoạt động quản lý tập trung vào việc tăng năng suất lao động nhờ hoạt động quản lý với việc phân tích công việc và áp dụng các công việc làm giảm thao tác của công nhân, làm cho công việc được thực hiện nhanh hơn bằng cách tác động vào cách thức làm việc của công nhân. 6 Với các học giả theo trường phái tâm lý xã hội, họ chú trọng hơn đến yếu tố tâm lý xã hội để nâng cao hiệu quả không chỉ của lao động sản xuất mà cả đối với lao động quản lý. Các nhà khoa học theo trường phái này đã hình thành 7 chức năng quản trị với cuốn “luận cứ khoa học quản lý” của Fayol năm 1937. Theo đó, hoạt động quản lý khoa học được thiết kế với 7 chức năng gồm: - P: Planning (Dự kiến); - O: Organizing (Tổ chức); - S: Staffing (Nhân sự); - D: Directing (Chỉ huy); - CO: Coordinating (Phối hợp); - R: Reporting (Báo cáo); - B: Budgeting (Ngân sách) Theo các nhà quản trị hiện đại, năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của công nhân mà còn phụ thuộc rất lớn vào các nhân tố quản lý và sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý xã hội của con người.
Theo quan niệm đầy đủ của khoa học quản lý hiện đại, quản lý được hiểu là một hệ thống tác động của chủ thể là hệ thống quản lý với những bộ phận cấu thành thực hiện các chức năng quản lý khoa học tới đối tượng quản lý bằng những tác động hành chính, kích thích kinh tế và tác động tâm lý xã hội nhằm đạt được những mục tiêu xác định của sản xuất kinh doanh. Qua nghiên cứu khái niệm quản lý, ta thấy rõ hơn giá trị của sự động viên con người, về ảnh hưởng của tập thể đối với năng suất lao động, tác phong làm việc và động lực làm việc của người lao động. Ta cũng ngày càng hiểu rõ hơn mối quan hệ nhân sự trong công việc cũng như về ý nghĩa của lao động sản suất và lao động quản lý đối với con người. Những kiến thức đó đã giúp nhà quản lý hiểu và quan tâm hơn đến các yếu tố trong cách thức ứng xử với người lao động và xây dựng phong cách lao động quản lý cho lãnh đạo doanh nghiệp.
Thực chất năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý 1. Khái niệm năng lực quản lỷ của cán bộ quản lý Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực quản lý của cán bộ quản lý. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 19, các nhà khoa học đã có những định nghĩa khác nhau về năng lực quản lý. Có nhà khoa học gọi với cái tên “Competency”, có nhà khoa học lại chi tiết hơn với khái niệm “Competencies”.
Dù gọi theo cách nào, chúng cũng có thể được hiểu theo cùng một nghĩa “năng lực”. Và sau này, cả hai thuật ngữ này có thể được sử dụng thay thế lẫn nhau. 7 Theo quan điểm của các nhà khoa học Anh quốc đã được công bố trên trang Web có địa chỉ tại http://www.uk khái niệm năng lực được định nghĩa là “năng lực của từng cá nhân hoặc một nhóm cá thể có cùng chức năng để thực hiện một cách có hiệu quả nhất lĩnh vực công tác của họ”. Hai nhà khoa học Berbard Wynne và David Stringer đã định nghĩa “năng lực” như là sự tích tụ của kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ của bất kỳ một cá nhân nào được huy động để đạt được những kết quả mong muốn trong công việc của chính mình.
Năm 1979, nhà triết học Hayes đã định nghĩa rằng “năng lực” của mỗi người là tập họp sức mạnh của mỗi cá nhân được hình thành nhờ sự tổng hợp của các yếu tố kiến thức, tình cảm, vị trí xã hội, kỹ năng của mỗi cá thể đó đóng góp vào việc thực thi công việc của mình. Năm 1989, nhà kinh tế học Anbanese đã định nghĩa “năng lực quản lý” như là các đặc tính của mỗi cá nhân họp thành sức mạnh tổng thể của người đó để giúp người đó thực hiện có hiệu quả công việc nhất định. Cả hai định nghĩa trên đều có sự thống nhất ở chỗ coi “năng lực” là sự kết họp hữu cơ các yếu tố họp thành bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ của bản thân người đó nhằm giúp người đó hoàn thành công việc của mình. Trong tác phẩm “Xây dựng năng lực nghề” của tác giả Dennis J.
Kravets, ông đã đưa ra khái niệm “Năng lực của mỗi người được hiểu là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố cấu thành bao gồm kiến thức của người đó được từng bước hun đúc mà thành, kỹ năng thực hiện được rèn luyện thông qua kinh nghiệm thực tiễn và thái độ của người đó đối với công việc, đối với những người xung quanh anh ta”. Đồng nhất với quan điểm trên, các nhà khoa học Richard s. Mansfield, Kochanski, Fletcher (1997), Brookes (1995), Hoffman (1999) và Westera (2001) tuy có đưa ra công thức về năng lực theo công thức năng lực KSA (Kiến thức, kỹ năng và thái độ), hoặc năng lực được viết thành công thức KSAO (Kiến thức, kỹ năng, thái độ và những đặc tính khác) và KSV (Kiến thức, kỹ năng và các giá trị), các khái niệm trên đều có điểm chung đều về khái niệm “năng lực thực hiện công việc của mỗi cá nhân” với công thức là sự kết họp hài hòa của các yếu tố hợp thành. Năm 2002, Tổ chức Phát triển Quốc tế của Liên hợp Quốc UNIDO có đưa ra một khái niệm chung về năng lực như sau: Năng lực của một cong người là một tập họp hữu cơ của các bộ phận hợp thành bao gồm các kiến thứ, kỹ năng có liên quan và các giá trị, thái độ của mỗi cá nhân cho phép họ thực hiện một cách tốt nhất nhiệm vụ được giao trong phạm vi chức trách nhiệm vụ được quy định.
Một cách chung nhất, nói đến năng lực là nói đến một tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ của mỗi cá nhân nhàm giúp họ thực hiện một cách có hiệu quả nhất công việc mà người đó đảm nhiệm. Sau đây là công thức tổng quát hình thành nên năng lực được tác giả lựa chọn là cơ sở cho việc nghiên cứu: 8 Kỹ năng, kinh nghiêm (Skills) Tổ chất hành vi thái độ (Attitude Kiến thức (Knowledge) Nguồn: B ass B. Handbook of leadership. New York: Free Press, 1990 Nói tóm lại, năng lực là một yếu tố rất quan trọng tạo thành một trong những yếu tổ quan trọng của nguồn nhân lực được huy động, sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của bất kỹ một doanh nghiệp nào.
Các doanh nghiệp cần phải hiểu và sử dụng khái niệm này vào việc đào tạo và hun đúc nguồn nhân tài vật lực cho sự nghiệp kinh doanh lâu dài của chính doanh nghiệp. Năng lực có thể phân chia làm hai nhóm chính là: - Lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để xác định: ta thấy Năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp. - Lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động: Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống. Hoặc: Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách họp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống, (cần phải định nghĩa năng lực quản lý) Năng lực quản lý là khả năng dự báo, phán đoán, khả năng xử trí tình huống, khả năng hành động của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực hiện chức nãng nhiệm vụ.
Khả nãng dự báo, phán đoán thực chất là nhà lãnh đạo, quản lý có tầm nhìn về tương lai. “Đó là lý tưởng”, về tương lai mà hệ thống tổ chức đưa ra.