phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương sau: 15 z Chƣơng 1: Những vấn đề chung về năng lực lãnh đạo của cán bộ, công chức và sự cần thiết phải nâng cao năng lãnh đạo của đội ngũ cán bộ công chức nữ. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực lãnh đạo và quản lý của cán bộ công chức nữ ở Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ nữ tại Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội. 16 z CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC NỮ 1.
Năng lực lãnh đạo của cán bộ công chức Năng lực là một khái niệm luôn gắn liền với một chủ thể nhất định, đó là năng lực của một tổ chức hay một cá nhân. Năng lực lãnh đạo của cán bộ công chức gắn liền với chủ thể là cán bộ, công chức nhà nước. Vì vậy, trước khi đi nghiên cứu năng lực năng lực của đội ngũ này cần phải làm rõ khái niệm cán bộ công chức, cán bộ công chức lãnh đạo.1 Cán bộ, công chức 1. Cán bộ, công chức Hiện nay, theo Luật cán bộ công chức năm 2008 các đối tượng được coi là cán bộ, công chức qui định tại điều 4 bao gồm: 1.
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân 17 z chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [10]. Cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý Cán bộ lãnh đạo được hiểu là những người có chức vụ và trách nhiệm điều hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, là người ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức như giám đốc, vụ trưởng, viện trưởng, cục trưởng hay là người giúp việc cho những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, phụ trách trực tiếp hoặc nhiều mảng việc của cơ quan như phó giám đốc, phó vụ trưởng, phó cục trưởng.
Cán bộ lãnh đạo cũng bao gồm các lãnh đạo ở các phòng, ban bao gồm các chức vụ trưởng ban, phó ban, trưởng phòng, phó phòng. Cán bộ lãnh đạo được hiểu theo hai thành phần sau: Thứ nhất, được hiểu là những ai giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy, có vai 18 z trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động cả bộ máy. Cán bộ lãnh đạo đứng đầu đơn vị có chức vụ cao nhất trong một tập thể có quyền ra quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể tổ chức ấy, thập chí có thể chi phối dẫn dắt toàn bộ hoạt động của tổ chức và của cả hệ thống chính trị. Năng lực lãnh đạo Năng lực là tập hợp các khả năng, nguồn lực của một con người hay một tổ chức nhằm thực thi một công việc nào đó.
Bởi vậy, về thực chất năng lực của một con người là tập hợp những gì mà con người đó đang thể hiện bao gồm: Kỹ năng kinh nghiệm, tố chất hành vi thái độ và Kiến thức. Theo đó, năng lực lãnh đạo là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ mà một nhà lãnh đạo cần có. Như vậy, để trở thành một nhà lãnh đạo, người lãnh đạo cần phải có các kiến thức chuyên sâu để chỉ đạo, điều hành đơn vị. Một người lãnh đạo có năng lực trước hết phải là người cán bộ công chức có năng lực tức là phải có kiến thức, có kỹ năng và thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn với công việc được phần công.
Năng lực lãnh đạo còn bao gồm các yếu tố về trình độ, kiến thức,chuyên môn hoá cao, kỹ năng thực thi công vụ, kinh nghiệm, thái độ hành vi, mà còn có khả năng hoạch định, chiến lược, có tầm nhìn xa và khả năng bẩm sinh, biết được tâm lý của mỗi nhân viên để thu hút mọi người, có khả năng dạy bảo để xây dựng và bố trí, sử dụng lực lượng đó. Vì vậy năng lực lãnh đạo không chỉ là tổng thể các kiến thức, kỹ năng, thái độ mà còn là sự quy tụ, đồng thời, là sự phối hợp chặt chẽ các yếu tố phù hợp với những điều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao. 19 z Ngoài ra năng lực của người lãnh đạo còn phải có những phẩm chất đặc biệt đó là: - Khả năng tư duy, thể hiện ở tầm nhìn xa, sâu và rộng. Tức là người có khả năng tiên đoán, dự báo những việc sẽ xảy ra trong tương lai để đưa ra các chiến lược, các chương trình, kế hoạch các mục tiêu cho đơn vị.
-Khả năng thiết kế cơ cấu tổ chức bộ máy phù hợp, có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng và hoạt động có hiệu quả. Muốn vậy nhà lãnh đạo, quản lý phát biết phát hiện năng lực của các thành viên trong tổ chức để đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và lôi cuốn họ tham gia vào các công việc chung nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị mình. - Phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tính quyết đoán cao, có tính kỷ luật cao và thực sự làm tầm gương để cấp dưới đi theo. - Phải có mỗi quan hệ tốt với cấp trên, cấp dưới và các đối tác khác.
Các tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, công chức Khi đánh giá năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý thể hiện qua rất nhiều tiêu chí khác nhau trong đó cần phải có tầm nhìn chiến lược, có cách ứng xử linh hoạt điều này được thể hiện qua các tiêu chí sau: 1. Năng lực tư duy và phân tích vấn đề Năng lực tư duy và phân tích vấn đề: Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải đáp ứng được yêu cầu về các loại năng lực đó là phân tích tổng hợp vấn đề một cách có hệ thống cùng với việc nắm bắt tốt cơ hội và lợi thế của ngành, tiếp cận, nắm bắt và phát triển được các vấn đề mới, có phương pháp làm việc một cách khoa học, sáng tạo, có tư duy chiến lược một cách có hệ thống về các mặt hoạt động của cơ quan đơn vị mình phụ trách hơn thế nữa 20 z cần có bộ óc phán đoán, dự báo tốt về hướng phát triển của cơ quan đơn vị mình trong tương. Năng lực hoạch định chiến lược, sách lược và quy hoạch: Năng lực này thể hiện đối với nhà lãnh đạo, quản lý phải biết đề ra chiến lược, sách lược và định hướng phát triển cho đơn vị cơ quan mình trong tong giai đoạn, thời kỳ nhất định. Hơn thế nữa, người lãnh đạo phải biết đặt ra mục tiêu phát triển của đơn vị với các kế hoạch phát triển dài hạn hay gắn hạn phù hợp với trong thời kỳ.
Điều quan trọng đối với năng lực này, người lãnh đạo cần có đó là: Là người có vốn hiểu biết, có kiến thức tốt để nắm vững chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Không phải chỉ nắm vững mà phải biết vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với đơn vị cùng với việc xây dựng các quy hoạch phát triển trong ngành đòi hỏi phải có kiến thức tổng hợp, hiểu biết sâu về một chuyên môn cụ thể, biết các chuyên môn và ngành khác có liên quan, biết hoạch định, chiến lược phát triển đơn vị phù hợp cho từng thời kỳ. Đảm bảo sự nhất quán giữa kế hoạch của đơn vị, bộ phận mình với kế hoạch của đơn vị và bộ phận khác và của toàn cơ quan. Năng lực tổ chức, quản lý và điều hành Năng lực tổ chức bộ máy nhân sự và đánh giá cán bộ, thể hiện ở việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận cấu thành phòng, ban, ngành cùng với đó việc tuyển dụng cán bộ phải hợp lý theo đúng quy trình, quy định của cơ quan và phải bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp với yêu cầu vị trí công việc.
Có như vậy người lãnh đạo,quản lý mới phát huy được hết năng lực của cán bộ. Bên cạnh đó, việc ghi nhận khen thưởng, bổ nhiệm, xây dựng, phân công công việc, kỷ luật đối với cán bộ của người lãnh đạo, quản lý phải rõ ràng, hợp lý và công bằng, khách quan. 21 z Vấn đề thông tin đối với người lãnh đạo, quản lý rất quan trọng. Điều này đặt ra là họ phải biết cập nhật và xử lý thông tin kịp thời, chính xác, có khả năng đề xuất các công việc mang tính khá thi, xây dựng được kế hoạch và chương trình hoạt động phù hợp với mục tiêu cụ thể.