chương 1 và chương 3, tác giả đã khái quát có hệ thống những vấn đề cơ bản của HLCĐ Hải quân như: Đối tượng, mục đích, nội dung của HLCĐ; các quan điểm, nguyên tắc, yêu cầu trong huấn luyện; bản chất, nội dung chỉ đạo HLCĐ, đồng thời đưa ra khái niệm, tổ chức cơ quan huấn luyện, các thành phần của HLCĐ Hải quân. luan an 17 Phạm Ngọc Minh (2011), Quân chủng Hải quân tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu [105]. Bài viết của tác giả chỉ rõ: Để hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, năng lực tổ chức, điều hành huấn luyện của các cấp. Trước hết, công tác giáo dục, huấn luyện được triển khai đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, phê duyệt, tổ chức thực hiện đến kiểm tra và thống kê kết quả.
Bài viết đã làm rõ thực trạng, yêu cầu nhiệm vụ HLCĐ và đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng HLCĐ, sẵn sàng chiến đấu như: Thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức cho bộ đội về nhiệm vụ huấn luyện; tập trung nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, làm cơ sở nâng cao chất lượng huấn luyện của đơn vị; thường xuyên duy trì phong trào thi đua Quyết thắng, tăng cường công tác kiểm tra, hội thao, hội thi trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Nguyễn Duy Định (2013), Kinh nghiệm nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn Hải quân 147 [81]. Tác giả chỉ rõ những kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn như: Thường xuyên đẩy mạnh công tác, giáo dục chính trị - tư tưởng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho bộ đội đối với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; thực hiện tốt công tác đảm bảo huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Nguyễn Duy Tỷ (2016), Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Vùng 5 Hải quân [143].
Từ thực tiễn chỉ đạo và tổ chức huấn luyện, tác giả rút chỉ ra một số kinh nghiệm như: Phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác huấn luyện; gắn xây dựng cấp ủy với kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp; tích cực đổi mới huấn luyện một cách toàn diện, chú trọng cả huấn luyện quân sự; Coi trọng công tác kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm sau mỗi đợt huấn luyện, diễn tập, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện. luan an 18 Trương Quang Lệnh (2016), Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn Pháo binh 572 [91]. Bài viết đưa ra một số nội dung giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; tập trung làm rõ nội dung các giải pháp như: Lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức, trách nhiệm về nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; cơ quan và chỉ huy đơn vị tích cực bám sát mọi hoạt động của bộ đội, kịp thời phát hiện, giải quyết tốt các vướng mắc; thực hiện tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ. Tác giả đã đánh giá khái quát thực trạng công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước.
Dự báo, định hướng tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, đảm bảo cho quân đội tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Lê Xuân Thủy (2018), Nâng cao chất lượng huấn luyện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc [132]. Bài viết luận giải làm rõ vị trí, vai trò nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Yêu cầu xây dựng Quân chủng Hải quân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.
Khẳng định vị trí, vai trò công tác huấn luyện; thực trạng công tác huấn luyện và huấn luyện trong điều kiện chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trần Mạnh Chiến (2018), Đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện ở Lữ đoàn 162 [18]. Tác giả khái quát, đánh giá kết quả đạt được trong huấn luyện trên các mặt công tác, lĩnh vực hoạt động và đưa ra một số giải pháp mang tính đột phá: Thường xuyên quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức cho bộ đội về nhiệm vụ huấn luyện; tích cức nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp huấn luyện theo phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”; Đột phá trong nâng cao chất lượng huấn luyện sĩ quan; sàng lọc, phân chia đối tượng huấn luyện đáp ứng lộ trình làm chủ VKTBKT hiện đại. luan an 19 Phạm Khắc Lượng (2018), Vùng 2 Hải quân tập trung đổi mới công tác huấn luyện, nâng cao sức mạnh chiến đấu [101].
Tác giả đưa giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, sức mạnh chiến đấu. Trong đó đi sâu phân tích, làm rõ giải pháp: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm cao cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện; tiếp tục đổi mới toàn diện công tác huấn luyện, tạo chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; đổi mới công tác huấn luyện kỹ thuật, hậu cần. Trần Tiến Dũng (2018), Trung đoàn Ra đa 294 nâng cao chất lượng HLCĐ [23]. Tác giả khẳng định, để nâng cao chất lượng HLCĐ trước hết, Trung đoàn chú trọng nâng cao NLLĐ, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác huấn luyện.
Cấp ủy có nghị quyết lãnh đạo chuyên đề về công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Chú trọng đổi mới tư duy và phương pháp tổ chức huấn luyện cho đội ngũ cán bộ, vận dụng tốt các quan điểm, nguyên tắc, mối kết hợp trong huấn luyện. Nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu của các tổ chức đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các công trình khoa học của những tác giả kể trên đã đề cập một cách có hệ thống về huấn luyện và việc nâng cao chất lượng HLCĐ; về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác HLCĐ; một số công trình đánh giá thực trạng, rút ra bài học kinh nghiệm.
Nhiều công trình dự báo những yếu tố tác động đến HLCĐ; Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nâng cao chất lượng HLCĐ. Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn rất lớn giúp cho nghiên cứu sinh tham khảo, học tập, kế thừa, vận dụng để xây dựng luận án. Các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện chiến đấu của Quân đội, Quân chủng Hải quân Ngô Văn Quỳnh (2000), Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ HLCĐ ở đơn vị cơ sở thuộc các Binh đoàn chủ lực luan an 20 hiện nay [121]. Luận án nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ ở đơn vị cơ sở; Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ; luận giải làm rõ khái niệm CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ; đưa ra tiêu chí cơ bản đánh giá, những yếu tố tác động đến chất lượng CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ ở đơn vị cơ sở các Binh đoàn chủ lực.
Đề tài làm rõ quan niệm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Quân chủng Hải quân; rút ra sáu bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Quân chủng trong tình hình mới. Chu Xuân Cư (2011), Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Đoàn Phòng không B. Tác giả làm rõ thực trạng nhiệm vụ, yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; Đề xuất chủ trương, biện pháp nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; gắn phong trào thi đua quyết thắng với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Trần Đại Nghĩa (2011), Công tác đảng, công tác chính trị trong nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội Trường Sa [108].
Tác giả luận giải làm rõ vị trí, vai trò HLCĐ của bộ đội Trường Sa; đặc điểm biển, đảo khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết Trường Sa và sự cần thiết phải làm tốt CTĐ, CTCT trong nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội Trường Sa. Đề xuất những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu. Tổng cục Chính trị (2012), Công tác đảng, công tác chính trị trong tác chiến bảo vệ biển, đảo của Quân chủng Hải quân thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ luan an 21 Tổ quốc [136]. Cuốn sách đi sâu luận giải lý luận, thực tiễn về CTĐ, CTCT trong tác chiến bảo vệ biển, đảo của Quân chủng Hải quân; đánh giá thực trạng; đưa ra một số kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; dự báo những yếu tố tác động và đề xuất các giải pháp CTĐ, CTCT trong tác chiến bảo vệ biển, đảo của Quân chủng Hải quân.
Có đưa ra giải pháp về kiện toàn tổ chức, giữ vững sự lãnh đạo của các tổ chức đảng; giải pháp về chấp hành kỷ luật chiến trường và giải pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho thực hiện nhiệm vụ. Hà Sỹ Chiến (2014), Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong quản lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở trung, lữ đoàn thông tin Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay [17]. Luận án đã đi sâu phân tích làm rõ những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong quản lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở các trung, lữ đoàn thông tin; đánh giá thực trạng, rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong quản lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở các trung, lữ đoàn thông tin. Nguyễn Văn Thăng (2017), Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện chiến đấu ở Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 1 [129].
Tác giả khẳng định vai trò CTĐ, CTCT trong HLCĐ là một trong những yếu tố quan trọng, thường xuyên tác động sâu sắc đến quá trình huấn luyện cũng như chất lượng, hiệu quả công tác huấn luyện.