Mở đầu” và “Kết luận”, luận án chia thành bốn chương. Chương một là “Tình hình nghiên cứu quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ.” Trong chương này, luận án sẽ thảo luận tình hình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ theo ba phần. Phần một là các nghiên cứu lịch sử quan hệ hai nước từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao. Phần hai là các nghiên cứu về quan hệ an ninh quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ.
Trong đó sẽ xem xét các quan điểm tranh luận về việc phát triển mối quan hệ. Phần ba, luận án sẽ thảo luận những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ và đưa ra những đóng góp cụ thể về mặt lý thuyết, tài liệu và nội dung của luận án cho nghiên cứu về quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ. Để có cơ sở phân tích quan hệ quốc phòng hai nước, chương hai của luận án sẽ trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ. Trong đó phần đầu chương hai sẽ thảo luận về “Lý thuyết nghiên cứu và khung phân tích” của luận án.
Trong phần này sẽ trình bày tổng quan về lý thuyết Hiện thực trong nghiên cứu quan hệ quốc tế. Tiếp theo là quan điểm của lý thuyết Hiện thực về vấn đề hợp tác an 15 ninh quốc phòng, quan hệ bất đối xứng giữa nước lớn nước nhỏ. Từ đây sẽ đưa ra các nhân tố để xây dựng khung phân tích cho luận án. Sau khi xây dựng cơ sở lý thuyết, phần hai của chương hai sẽ trình bày “Cơ sở hình thành và tư duy hợp tác quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ.” Trong phần này chú trọng đến vấn đề sau: cơ sở hình thành mối quan hệ quốc phòng và việc hình thành tư duy hợp tác quốc phòng giữa hai bên trong những năm đầu khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao đến năm 2000: Một là cơ sở hình thành quan hệ quốc phòng hai nước.
Hai là việc hình thành tư duy hợp tác quốc phòng, từ tư duy này xem xét các định hướng quan hệ giữa hai bên trong thời kì đầu. Ba là các cuộc trao đổi trên lĩnh vực quốc phòng thời kỳ đầu giữa hai bên. Chương ba sẽ tập trung chứng minh cho hai lập luận. Trong phần đầu chương ba, luận án sẽ xem xét “Quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2001 đến 2008”.
Theo khung phân tích của đề tài, ba nhân tố để phân tích quan hệ quốc phòng hai nước như sau: Quan điểm của Hoa Kỳ về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Với vị thế nước lớn, Hoa Kỳ sẽ định hình “luật chơi” trong quan hệ ở khu vực và với Việt Nam. Song song đó, phần này sẽ xem xét Việt Nam kiên định lẫn điều chỉnh với đường lối đối ngoại nói chung và quan hệ với Hoa Kỳ. Từ hai nội dung này sẽ xác định lợi ích hai bên trong quá trình phát triển mối quan hệ quốc phòng. Nội dung này sẽ được trình bày trong hai phần đầu bao gồm “Chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” và “Quan điểm của Việt Nam”.
Trong phần ba “Quan hệ quốc phòng hai bên” sẽ xem xét quá trình tương tác, ý định, hành động và nỗ lực của mỗi bên. Trong phần này sẽ theo dõi tiến trình phát triển mối quan hệ quốc phòng thông qua các chuyến thăm và trao đổi các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng trong thời gian từ năm 2001 đến 2008. Những vấn đề hai bên đồng ý chia sẻ và hợp tác diễn ra như thế nào là dấu hiệu cho thấy hướng đi lâu dài trong quan hệ hai bên để làm sao Hoa Kỳ đạt được lợi ích nhưng không khiến Việt Nam cảm thấy bất an trong việc lựa chọn của mình. Các hoạt động và kết quả hai bên hợp tác trong giai đoạn này sẽ góp phần đánh giá mức độ quan hệ quốc phòng hai bên ra sao.
Theo lý thuyết, Hoa Kỳ sẽ triển khai hoạt động cân bằng ngầm, vậy đối với Việt Nam thì Việt Nam đã cùng hợp tác trên các lĩnh vực nào, các lĩnh vực hợp tác an ninh phi truyền thống ấy đã có kết quả ra sao? Trong phần tiếp theo của chương ba sẽ phân tích, “Quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2009 - 2018” sẽ tiếp tục phân tích theo ba phần. Ở phần “Chiến 16 lược của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” sẽ trình bày sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ trong thời kỳ Tổng thống Barack Obama và thời gian đầu trong nhiệm kỳ Tổng thống Donald Trump. Song song đó ở phần “Quan điểm của Việt Nam”, luận án sẽ tiếp tục phân tích sự thay đổi và kế thừa trong chính sách đối ngoại lẫn quốc phòng của Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2018. Tiếp theo đó, quá trình tương tác của hai bên có những sự thay đổi và phát triển nào sẽ được xem xét trong phần “Quan hệ quốc phòng hai bên”.
Trong phần này tiếp tục theo dõi các lĩnh vực hợp tác cụ thể, từ đó so sánh với giai đoạn trước để thấy được tiến trình phát triển của quan hệ quốc phòng hai bên. Chương bốn sẽ đưa ra một số nhận xét về kết quả và dự báo mối quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ. Trong đó, luận án sẽ khái quát những thành tựu lẫn hạn chế của mối quan hệ này đặt trong tổng thể quan hệ giữa hai nước. Đồng thời, với những thay đổi chính sách trong giai đoạn đầu những năm 2018, mối quan hệ này sẽ có những bước phát triển ra sao? Luận án sẽ đưa ra một vài nhận định và dự báo trong tương lai gần.
Trong phần cuối, bên cạnh việc đưa ra kết luận, luận án sẽ chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu. Từ đây sẽ đưa ra hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai cho chủ đề này. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN HỆ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM – HOA KỲ Nghiên cứu về sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ kể từ khi kết thúc chiến tranh, chuyển biến quan hệ từ đối đầu thành bạn hữu không phải mới. Các nghiên cứu xem xét mối quan hệ từ nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau.
Dưới góc độ lịch sử, các nghiên cứu giai đoạn kể từ sau bình thường hóa quan hệ năm 1995 đến những năm đầu thế kỷ 21 thường thảo luận các khó khăn trong quá trình xây dựng lòng tin, các bài học kinh nghiệm và nhận định về khả năng phát triển quan hệ hai nước nói chung trong tương lai. Còn trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng giữa hai nước, câu hỏi tranh luận phổ biến là quan hệ quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ phát triển ở mức độ và chiều sâu ra sao? 1. Nghiên cứu lịch sử quan hệ hai nước từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao Ở góc độ lịch sử, kể từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước năm 1995, quá trình xây dựng niềm tin và tiến đến hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng có rất nhiều yếu tố chi phối, từ lịch sử cho đến sự khác biệt giữa hai bên. Tác giả Lê Văn Quang trong tác phẩm “Quan hệ Việt Mỹ thời kì sau Chiến tranh Lạnh 1990 - 2000” lập luận rằng các cơ hội bị bỏ lỡ trong quan hệ Việt - Mỹ không hẳn là do nhận định tình hình và chính sách từ phía Việt Nam – khi mà “Việt Nam chủ trương bình thường hóa quan hệ với một số điều kiện nhất định, trong đó có vấn đề trách nhiệm của Hoa Kỳ trong việc hàn gắn và tái thiết Việt Nam sau chiến tranh” [Lê Văn Quang, 2005, tr.
Tác giả Lê Văn Quang cho rằng nhận định này chưa chính xác bởi lẽ trong khi để ngỏ cửa cho khả năng cải thiện quan hệ, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thi hành chính sách thù địch với Việt Nam như việc bao vây, phong tỏa, cấm vận. Tương tự như vậy, trong nghiên cứu “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và Triển vọng” giai đoạn 1975 - 2005, tác giả Trần Nam Tiến đã trình bày thực trạng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong suốt giai đoạn từ trước và sau khi bình thường hóa, trong đó nhấn mạnh đến những bài học rút ra từ tiến trình này như sau: mối quan hệ hai bên là quan hệ vừa hợp tác vừa đấu tranh bởi lẽ hai nước có chế độ chính trị khác nhau. Hai bên đều tiến đến “khép lại quá khứ hướng đến tương lai” vì những lợi ích chung của cả hai nước [Trần Nam Tiến, 2010, tr. Các nghiên cứu này đứng trên lập trường của Việt Nam do đó sẽ nhấn mạnh đến các nỗ lực và ý nghĩa tích cực trong các hành động của 18 Việt Nam trong suốt thập niên 1990 và những năm đầu thế kỷ 21, phần phân tích lập trường và quan điểm của phía Hoa Kỳ vẫn thể hiện tính đối đầu với Việt Nam.
Cùng góc nhìn này, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Cường trong công trình “Quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: 1976 - 2006” nhấn mạnh yếu tố khác biệt về mô hình phát triển kinh tế, mô hình nhà nước tác động đến quan hệ hai nước. Trong cách nhận định ấy, Hoa Kỳ có khuynh hướng đối đầu hơn là chia sẻ và tôn trọng Việt Nam, ví dụ trong vụ kiện cá basa và vụ kiện tôm; các đòi hỏi về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của các nhóm phản động nhằm can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam, Hoa Kỳ dùng sức ép để ép buộc Việt Nam [Nguyễn Anh Cường, 2015, tr. Trên thực tế thì với vị thế nước lớn, Hoa Kỳ sẽ có ưu thế và quyền lực để áp đặt các mối quan hệ, thế nhưng khi nghiên cứu quan hệ hai nước mà chỉ nhấn mạnh cường quyền của nước lớn thì chỉ thấy Việt Nam ở thế bị động ứng phó. Cùng chia sẻ nhận định này, tác giả Vũ Thị Thu Giang trong luận án tiến sĩ “Quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam từ năm 1991 đến 2006” kết luận chính sách của Hoa Kỳ giai đoạn đầu thế kỷ 21 có tính chất hai mặt vừa cải thiện quan hệ với Việt Nam vừa thực hiện chiến lược chuyển hóa Việt Nam, tiến hành “diễn biến hòa bình” [Vũ Thị Thu Giang, 2011].