phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, kết luận gồm có 3 chương, 14 tiết và danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. luan an 6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Những công trình khoa học liên quan đến lý luận chung về năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ 1. Một số công trình nghiên cứu trên thế giới về ă g lực lã h ạo, quản lý Trên thế giới, vấn đề năng lực lãnh đạo, quản lý được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu.
Có thể kể đến một số công trình gần đây như: Yukil & Van Fleet (1992) trong tác phẩm Lý thuyết và nghiên cứu v lãnh đ o trong các t chức (Theory and research on leadship in organizations) đưa ra: lý thuyết lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất bẩm sinh. Lý thuyết này cho rằng năng lực của các nhà lãnh đạo là sẵn có chứ không phải do luyện tập hay cố gắng mà đạt được. Do đó, các nhà lãnh đạo phải là những người có tố chất siêu phàm, phải có những giá trị vượt trội, và chính những tố chất và giá trị vốn có đó giúp họ trở nên xuất chúng và trở thành những người đứng đầu một quốc gia, bộ tộc, tôn giáo hay tổ chức. Lý thuyết lãnh đạo tố chất đã tìm ra những đ c điểm, tính cách của nhà lãnh đạo có liên hệ mật thiết tới thành công của tổ chức.
Trong đó tính “thống trị” và “tham vọng” là những đ c điểm nổi trội của các nhà lãnh đạo.Katz (2007) trong tác phẩm: Nhà l nh đ o: Các chiến lược đ nắm gi (Leaders: The strategies for ta ing charge) đã đưa ra lý thuyết lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi vào những năm 1940 - 1950. Theo đó, thay vì nghiên cứu các đ c điểm tính cách của nhà lãnh đạo, lý thuyết lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi tập trung vào hành động, công việc cụ thể mà mỗi nhà lãnh đạo thực hiện. Tuy nhiên cần lưu ý là hành vi của các nhà lãnh đạo lại phụ thuộc vào đ c điểm tính cách và kỹ năng lãnh đạo đó. Các tác giả mong muốn tìm kiếm một phong cách lãnh đạo tốt nhất, các nhà nghiên cứu đã phân tích và cố gắng tìm ra sự khác biệt trong hành động của những nhà lãnh đạo hiệu quả và những người khác.
Vì vậy, điểm khác biệt của lý thuyết lãnh đạo hành vi là nghiên cứu các phong cách (mô hình) lãnh đạo tiêu biểu. Maxwell (2008) trong cuốn: Phát tri n kỹ năng l nh đ o [70] đã nêu định nghĩa “lãnh đạo gây ảnh hưởng”. Lãnh đạo sẽ không là lãnh đạo nếu không có ảnh hưởng. Một nhà lãnh đạo mà không có ai đi theo thì không hơn người đi bộ một mình.
Trong bất cứ tình huống nào, một nhóm từ hai người trở lên luôn luôn có một người có ảnh hưởng nổi bật, người đó là lãnh đạo. Vì vậy, mỗi chúng ta đều gây ảnh hưởng và bị ảnh hưởng từ người khác. Điều này có nghĩa là, tất cả chúng ta lãnh đạo người khác trong một vài lĩnh vực, ngược lại ở một số lĩnh vực khác chúng ta được người khác dẫn dắt. Không ai nằm ngoài quy luật này, ho c là nhà lãnh đạo ho c là người bị lãnh đạo.
Tác giả cũng cho rằng, ảnh hưởng được tạo luan an 7 ra từ quyền lực của nhà lãnh đạo, hay nói cách khác, tất cả các công việc lãnh đạo đều phải sử dụng đến quyền lực, quyền lực có thể tạo ra từ chức vị, từ các mối quan hệ, từ bản thân mỗi cá nhân. Người ta thường kết hợp cả ba loại quyền lực này với nhau trong khi thực hiện công việc, tuy nhiên mức độ sử dụng mỗi loại quyền lực lại khác nhau. Trong công việc lãnh đạo, nhà lãnh đạo sử dụng quyền lực cá nhân, tức là quyền lực xuất phát từ phẩm chất, năng lực của mình. Quyền lực đó mang tính chất cuốn hút, lôi kéo người khác đi theo mình.
Để làm rõ khái niệm “lãnh đạo gây ảnh hưởng”, Maxwell đã chỉ ra 5 cấp độ lãnh đạo, bao gồm: Chức vị (mọi người đi theo bạn vì họ buộc phải theo); Sự chấp thuận (mọi người theo bạn vì họ muốn theo); Định hướng kết quả (mọi người theo bạn vì những gì bạn đã làm cho tổ chức); Phát triển con người (mọi người theo bạn vì những gì bạn đã làm cho họ); Cá nhân (mọi người đi theo bạn vì bạn là ai và bạn đại diện cho điều gì). Theo tác giả, thành tố quan trọng nhất trong kỹ năng lãnh đạo là tính nhất quán, sự sát hạch khắt khe với nhà lãnh đạo là tạo ra sự tích cực, con đường hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo nhanh nhất là giải quyết vấn đề. Maxwell nhấn mạnh một ưu điểm trong năng lực lãnh đạo là có tầm nhìn, và cái giá của lãnh đạo: Tự kỷ luật và bài học quan trọng nhất chính là phát triển đội ngũ nhân sự. Trong cuốn sách, Maxwell đã “phác thảo” ra mẫu nhà lãnh đạo, đó là người sử dụng ảnh hưởng của mình trong một thời điểm thích hợp, người có trách nhiệm cao khi thất bại, không vỗ ngực khi thành công, người tự lãnh đạo bản thân thành công trước khi lãnh đạo người khác, người luôn tìm kiếm giải pháp tối ưu chứ không phải giải pháp gần nhau… Caldwell, C.,T (2010) trong cuốn: L nh đ o, ni m tin và đ o đức quản lý (Leadership Trustworthiness and Ethical Stewardship) đã mô hình hoá lãnh đạo gồm ba nhiệm vụ then chốt: 1) phát triển các mối quan hệ, tạo dựng sự cam kết của cấp dưới; 2) sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức; 3) xây dựng hình ảnh tạo nên niềm tin và sự tin cậy trong toàn tổ chức.
Nona a Ta euchi Wise leader (2011) (Nhà l nh đ o khôn ngoan), các tác giả cho rằng, trong thời đại của những biến động, sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo là yếu tố hết sức cần thiết cho sự phát triển của tổ chức và xã hội. Sự khôn ngoan là kết tinh của sự hiểu biết, uyên thâm, từng trải thực tiễn để đưa ra được phán quyết tốt nhất vì lợi ích chung trong một bối cảnh cụ thể. Phẩm chất của nhà lãnh đạo khôn ngoan bao gồm: khả năng phán xét vì lẽ phải, khả năng nắm bắt vấn đề, khả năng tạo bối cảnh, khả năng truyền đạt bản chất vấn đề, khả năng thực hành quyền lực chính trị, khả năng phát huy sự khôn ngoan ở người khác.I (2011) trong cuốn: L nh đ o và phát tri n nhân sự (Leadership luan an 8 & HR Development) cho rằng: lãnh đạo là việc gắn kết và đồng nhất nỗ lực của mọi người để thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Ngoài ra có thể kể đến một số công trình khác như: X.
ôvalépxki (1983), Người lãnh đạo và cấp dưới, Nxb Lao động, Hà Nội; Seters, D. Field, Sự phát triển của lý thuyết lãnh đạo học (The Evolution of Leadership theory), bản dịch của Lê Thị Thục; O.Hermansson (1995), Dân chủ và lãnh đạo (102), Nxb CTQG, HN; A.Uris (Nguyễn công Tâm), Nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Hà Nội, 1996; Trần Thành (Trung Quốc) (2003), Để trở thành người lãnh đạo giỏi, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội; Vương Lạc Thu, Nguyệt Thần (2000), Khoa học lãnh đạo hiện đại, Nxb CTQG, HN; Kristen Magis, Marcus Ingle và Ngô Đức Huy, Chương 18: Lãnh đạo công vì sự phát triển bền vững (Public Leadership for sustainable Development), trong New Public Governance: A Regime-Centered Perspective, Edited by: Douglas F. Cook, Nxb ME Sharpe, NY (Bản lưu tại Viện Chính trị học)… Các công trình này đề cập đến sự phát triển các lý thuyết lãnh đạo trọng lịch sử, phân tích vai trò quan trọng của người lãnh đạo và nghệ thuật của người lãnh đạo đối với cấp dưới và trong tập thể, những kỹ năng cơ bản để trở thành người lãnh đạo giỏi. Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận án nghiên cứu, kế thừa trong phần cơ sở lý luận về năng lực lãnh đạo, quản lý của luận án.
Một số công trình tro g ước nghiên cứu chủ ghĩa ác - L i , tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và ă g lực lã h ạo, quản lý của cán bộ Ở Việt Nam, nhiều học giả quan tâm nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ. Có thể kể đến một số công trình sau: Triệu Quang Tiến (2006) trong bài viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh v cán bộ và công tác cán bộ dân tộc thi u số [135, tr 39- 54] đã đưa ra hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ thể hiện trên hai phương diện: phẩm chất, tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng và công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Trong đó, phẩm chất, tiêu chuẩn cần có ở người cán bộ cách mạng được Hồ Chí Minh đề cập nhiều lần trong nhiều tác phẩm như “Đường cách mệnh” (1926), Sửa đổi lối làm việc (1947), “Di chúc” (1969)… Trong bài viết, tác giả cũng đề cập đến quan điểm của Hồ Chí Minh đối với công tác cán bộ dân tộc miền núi, do tầm quan trọng chiến lược của miền núi nên Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi các cấp, ngành cả trung ương và địa phương cần nhận rõ trách nhiệm của mình đối với v ng đồng bào DTTS và chú trọng hơn nữa đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ DTTS, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và cân nhắc cán bộ miền núi. Để thực hiện được điều đó, Hồ Chí Minh đã luan an 9 đưa ra những yêu cầu về phẩm chất tiêu chuẩn của người cán bộ DTTS.
Trên cơ sở những quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ dân tộc miền núi, tác giả phân tích thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc miền núi ở nước ta hiện nay và chỉ ra những thành tựu trong công tác đó cũng như những hạn chế, nguyên nhân của các hạn chế cả về m t chủ quan, khách quan. Từ những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh từ năm 1945 - 1969, tác giả Phan H u Dật (2006) đưa ra một số suy nghĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo cán bộ DTTS ở nước ta trong bài viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh v đào t o, bồi dưỡng và s d ng cán bộ dân tộc thi u số ở nước ta [135, tr 55 - 67].