Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP TỈNH 1. Về khái niệm tư duy lý luận Trong giáo trình cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tác giả Trần Văn Phòng đã khẳng định: "lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện t- ượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù" [61]. Có nhiều loại lý luận, nhưng lý luận mà chúng ta nghiên cứu ở đây là lý luận khoa học và tư duy lý luận là quá trình con người phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Trong quá trình khái quát tư duy lý luận, chủ thể nhận thức sử dụng các công cụ nhận thức như khái niệm, phán đoán, suy luận để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động của tự nhiên xã hội và tư duy con người. Trong bài: "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta" của Trần Sỹ Phán [55] cho rằng: Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật. Quá trình tư duy là quá trình chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khái niệm để nắm bắt các mối liên hệ bên trong, bản chất, nhằm tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức. Theo nhóm tác giả trong đề tài: "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh hiện nay" của Nguyễn Đình Trãi [87] đã quan 7 niệm: Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận, bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật.
Trong cuốn sách: "Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn" của Trần Thành [80] cho rằng: Tư duy lý luận (được hiểu theo là cái "phủ định biện chứng" của tư duy kinh nghiệm) là tư duy dựa trên tri thức lý luận và phương pháp nhận thức khoa học. Trong bài: "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá và cơ bản trong quá trình đổi mới ở nước ta" của tác giả Lê Thị Thanh Hà [24] đã cho rằng: Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó là quá trình tổng kết những tri thức kinh nghiệm, trên cơ sở của thực tiễn và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận, bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật. Trong bài: "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho sinh viên thông qua giảng dạy triết học" của tác giả Nguyễn Thị Bạch Vân [91] cho rằng: Tư duy lý luận được hình thành trên cơ sở của tư duy kinh nghiệm; đó là sự phản ánh được các mối liên hệ "trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó" [34, tr. Tư duy lý luận có thể phân thành nhiều loại khác nhau.
Mỗi môn khoa học là một hệ thống tri thức lý luận (khác với tri thức kinh nghiệm) về bản chất bởi tư duy lý luận dựa trên cơ sở tri thức kinh nghiệm thực tiễn điển hình cùng với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà lý luận. Trong bài: "Tư duy lý luận chính trị của cán bộ lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Đặng Nguyên Hà [25] cho rằng: Tư duy lý luận là sự hiểu biết ở trình độ lý luận (chứ không phải ở trình độ kinh nghiệm) về thế giới nói chung và về các vấn đề xã hội nói riêng. Để đạt được kết quả cao trong hoạt động thực tiễn, mọi người nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng cần có tư duy lý luận. Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" của Dương Minh Đức [22] đã 8 cho rằng, nói đến tư duy lý luận là là nói đến tư duy ở trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, phản ánh gián tiếp nhưng sâu sắc về mối liên hệ bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Trong bài: "Ph.Ăngghen bàn về những điều kiện hình thành tư duy lý luận" của tác giả Ngô Đình Xây [93] đã cho rằng có 6 điều kiện hình thành tư duy lý luận là: Tư duy lý luận phải được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm. Điểm xuất phát của tư duy lý luận là kinh nghiệm. Không có kinh nghiệm thì không có sự khám phá thực sự về nhưng quy luật tất yếu, nội tại của sự vật, hiện tượng; Phải có giả thuyết và sử dụng giả thuyết trong quá trình hình thành tư duy lý luận. Phương pháp biện chứng duy vật như là điều kiện không thể thiếu để hình thành tư duy lý luận.
Tư duy biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy lý luận. Do đó một cách tất yếu là trong quá trình hình thành quan điểm duy vật về lịch sử, thì song song và cùng với nó là cần phải sử dụng phương pháp nào để có thể hình thành được tư duy biện chứng duy vật; Tư duy lý luận phải được gắn liền với sự phát triển của khoa học bởi việc gắn với sự phát triển của khoa học sẽ giúp cho tư duy nắm được các mối liên hệ bên trong của các sự vật hiện tượng; Tư duy lý luận phải có "bà đỡ" là thực tiễn xã hội; Muốn có tư duy lý luận, phải có sự nghiên cứu nghiêm túc toàn bộ lịch sử triết học. Bởi vì tư duy lý luận, ở mỗi người chúng ta, chỉ tồn tại dưới dạng năng lực tiềm tàng và chính việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, khoa học toàn bộ tư tưởng triết học của nhân loại sẽ giúp cho năng lực "ấy trở thành hiện thực". Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà thôi.
Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, mà muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước. Hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học đều cho rằng tư duy là vấn đề cốt lõi, mấu chốt của lý luận nhận thức, nếu không làm rõ được bản chất tư duy, nhận thức luận sẽ chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cảm tính về những thuộc tính, những mặt bên ngoài của các đối tượng nhận thức. Còn tư duy lý 9 luận là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, là sự phủ định của tư duy kinh nghiệm. Quá trình hình thành tư duy lý luận gắn liền với sự phát triển của khoa học, của thực tiễn lịch sử - xã hội.2 Về vai trò của tư duy lý luận Ph.Ăngghen cho rằng: "Dù người ta tỏ ra khinh thường tư duy lý luận như thế nào đi nữa, nhưng không có tư duy lý luận thì người ta không thể liên kết hai sự kiện trong giới tự nhiên với nhau được, hay không thể hiểu được mối liên hệ giữa hai sự liên kết đó" [41, tr.Ăngghen, tư duy lý luận có một vai trò đặc biệt quan trọng, vì một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận.
Đồng thời, trong khi nhấn mạnh tới vai trò của nó, Ph.Ăngghen cũng lưu ý ngay rằng: Tư duy lý luận của mỗi một thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau. Thế cho nên cũng như bất kỳ khoa học nào khác, khoa học về tư duy là một khoa học lịch sử, là khoa học về sự phát triển lịch sử của tư duy con người [41, tr. Trong cuốn: "Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay" của Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt và Lê ngọc Tòng [72], các tác giả đã cho rằng: tư duy lý luận có vai trò to lớn trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Do vậy, để đổi mới xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy lý luận, đặc biệt là tư duy kinh tế.
Đây là tiền đề nhận thức của đổi mới. Hình thành nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong những hoàn cảnh, điều kiện mới của tình hình trong nước và thế giới là điểm cốt lõi, căn bản nhất của lý luận đổi mới ở nước ta từ giữa thập kỷ 80 thế kỷ XX cho đến nay. Thực tiễn xã hội đã khách quan hoá vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc ta. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, do đó là vấn đề cấp bách, bức xúc đối với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, 10 lâu dài, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta.
Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa xã hội, thực hiện lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội, mà trước hết là đổi mới tư duy lý luận để nâng cao trình độ và năng lực lý luận của Đảng cầm quyền. Theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng thời kỳ đổi mới đã nhấn mạnh: "Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận" [36, tr. Bởi, tư duy lý luận là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri thức mới.