đặt vấn đề, tiến triển vấn đề, cho đến kết thúc vấn đề. - Quan trọng là vậy, song có lẽ đối với các nhà lãnh đạo thì tầm quan trọng của nó sẽ được nhân lên gấp bội. Tầm quan trọng đó thể hiện ở chỗ lãnh đạo chính là người tạo ra sự thay đổi, lãnh đạo chính là người nắm bắt thời cuộc, tạo ra việc làm; và lãnh đạo chính là người gây ảnh hưởng, thuyết phục người khác, tập hợp lực lượng để thực thi những công việc mà mình đã tạo ra. Vì vậy, kỹ năng lãnh đạo là một nhân tố sống còn đối bất cứ một nhà lãnh đạo nào.
- Như đã phân tích ở trên, hành vi thái độ là một yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo cho thành công của mỗi con người Đặc biệt đối với người lãnh đạo thì tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của hành vi thái độ lại càng được nâng cao. - Trong công tác lãnh đạo, hành vi, thái độ có thể được coi là ứng xử của cấp trên đối với cấp dưới. Ứng xử đó được hình thành trên cơ sở quan niệm sống, tính cách, đạo đức, văn hoá của người lãnh đạo. Ứng xử không đúng mực, quan niệm không tích cực, đạo đức, văn hóa không lành mạnh chắc chắn sẽ dẫn đến một kết cục không lấy gì làm tốt đẹp.
Với vai trò là người đi đầu, là người cầm cân nảy mực, người lãnh đạo càng phải công minh, chính trực, càng phải là trung tâm, trụ cột của mọi người. Các yếu tố cấu thành năng lực Theo mô hình ASK Năng lực / Năng lực lãnh đạo được cấu thành bởi các yếu tố sau: Hình 1.2: Các yếu tố cấu thành năng lực 9 1. Định nghĩa và đặc điểm của Kiến thức, Tri thức Kiến thức: là“Hiểu biết của một người hoặc cộng đồng về thông tin. Tri thức nằm trong đầu mỗi con người”hay “Là một quá trình con người tìm cách lý giải và kiểm chứng niềm tin cá nhân đối với sự thật…[4].
Xét một cách tổng quát hơn kiến thức là: “Tổng thể những năng lực về trình độ học vấn, hiểu biết về chuyên môn cụ thể, những kiến thức về văn hóa, xã hội, giao tiếp… của một cá nhân có được thông qua đào tạo, học hỏi, quan sát và trải nghiệm thực tế trong cuộc sống, trong trường học và trong công việc”. Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành. Kiến thức chịu ảnh hưởng của yếu tố học vấn, kinh nghiệm, định hướng phát triển cá nhân. Kiến thức bao gồm phần ẩn và phần hiện: - Phần ẩn: Có tính chủ quan và là tri thức dựa trên trải nghiệm không thể hiện bằng lời, con số hay công thức.
Nhận thức: Niềm tin; Hình tượng; Quan điểm; và Mô hình trí tuệ; Kỹ thuật: Sự khéo léo; Bí quyết. - Phần hiện: Có tính khách quan, logic có thể hiện bằng lời, con số hoặc công thức Mô hình, luận điểm lý thuyết; Giải quyết vấn đề; Các quyết sách hướng dẫn; Cơ sở dữ liệu. Đặc điểm kiến thức: - Tính Chủ quan: Dựa vào niềm tin, và phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể - Tính quá trình: liên quan tới các mối quan hệ được tạo ra thông qua các tương tác xã hội. - Tính thẩm mỹ: là sự theo đuổi không ngừng sự thật, lợi ích, và những điều tốt đẹp.
- Được tạo ra thông qua thực hành. Kiến thức chịu ảnh hưởng của yếu tố học vấn, kinh nghiệm, định hướng phát triển cá nhân. Một số kiến thức có thể xác định thành các tiêu chuẩn, một số kiến thức khó xác định và đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá, gồm có: Kiến thức chuyên môn; Kiến thức trong lĩnh vực làm việc; Kiến thức quản lý; Kiến thức đạo đức văn hóa, xã hội; và Kiến thức khác phục vụ công việc. Định nghĩa, phân loại và cơ chế hình thành Kỹ năng Là “khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”.
Là “khả năng học được để thực hiện một nhiệm vụ với kết quả 10 xác định trước thường trong một khoảng thời gian nhất định”. Là “vận dụng tri thức khoa học kỹ thuật vào công việc thực tiễn” [5]. Kỹ năng thường có thể được chia thành các kỹ năng trong các lĩnh vực chung và lĩnh vực cụ thể. (Ví dụ, trong lĩnh vực công việc, một số kỹ năng chung sẽ bao gồm: quản lý thời gian, làm việc theo nhóm và lãnh đạo, sự năng động…, trong khi kỹ năng cụ thể chỉ dành cho một công việc nhất định.
Đối với lãnh đạo cần có thêm các kỹ năng mềm khác [6] như: + Kỹ năng giao việc, giám sát, đánh giá kết quả; + Kỹ năng Đào tạo, hướng dẫn, khuyến khích, tạo động lực làm việc; + Kỹ năng Ủy quyền / Phân quyền. + Kỹ năng Quản lý và giải quyết các xung đột trong môi trường làm việc; + Thiết lập và duy trì các mối quan hệ: + Tổ chức cuộc họp và trình bày trước đám đông: + Vận động, thuyết phục, thương thảo: + Khả năng quản lý hành chính. - Cơ chế hình thành kỹ năng gồm có 3 giai đoạn [7]: Làm quen lĩnh hội với vận động; Giai đoạn tự động hóa vận động; Sự “mài bóng” kỹ năng. - Phân loại một số kỹ năng chính như sau: Kỹ năng lao động; Kỹ năng sống; Kỹ năng con người; Kỹ năng xã hội; Kỹ năng mềm "EQ" (Emotional Quotient); Kỹ năng cứng; Kỹ năng làm chủ.
Khái niệm và phân loại Thái độ và hành vi Là những quy tắc ứng xử, sự trung thành, trung thực tận tụy, tuân thủ những quy tắc quy định (như: Pháp luật, quy tắc xã hội, quy định của doanh nghiệp…). Trong nội dung này cần làm rõ thêm về khái niệm về Thái độ và Hành vi do ở một số nội dung lý thuyết về năng lực có đề cập. Thái độ - Là những quy tắc ứng xử, sự trung thành, trung thực tận tụy, tuân thủ những quy tắc quy định (như: Pháp luật, quy tắc xã hội, quy định của doanh nghiệp…); Là cách suy nghĩ (nhận thức), cách ứng xử (ý thức) trong công việc của con người. [7] - Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của các nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối liên hệ 11 - Một thiên hướng tương đối ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ thể đối với một khách thể có liên quan.
Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị. - Thái độ làm việc ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc. Thái độ là một trong bốn yếu tố cấu thành năng lực nhưng không phải là yếu tố chính. Hành vi - Là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định.
Hành vi được phân loại gồm: Hành vi bản năng(bẩm sinh di truyền); Hành vi kỹ xảo; Hành vi đáp ứng: Hành vi trí tuệ: [7] Theo X. Rubinstein, hành vi là hình thức đặc biệt của hoạt động: nó trở thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tượng chuyển sang kế hoạch quan hệ nhân cách xã hội (hai kế hoạch này không tách rời nhau: quan hệ nhân cách xã hội được hiện thực hóa ở quan hệ đối tượng). Hành vi đặc thù của các cá nhân phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ qua lại với nhóm mà anh ta là thành viên, vào chuẩn mực nhóm, vào định hướng giá trị và sự ấn định vai. Tính không thích hợp của hành vi (được thể hiện một phần ở chỗ nhân cách đánh giá quá cao khả năng của mình, tách rời ngôn ngữ và thực tiễn, làm suy giảm tính phê phán khi kiểm soát việc hiện thực hóa các chương trình hành vi) thể hiện một cách tiêu cực trong các mối quan hệ liên nhân cách.
Hành vi được phân loại như sau (1) Hành vi bản năng(bẩm sinh di truyền): Thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể, có thể là tự vệ, mang tính lịch sử, mang tính văn hoá mỗi quốc gia vùng miền. (2) Hành vi kỹ xảo: Là hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập, có tính mềm dẻo và biến đổi, nếu được định hình trên vỏ não và củng cố thì sẽ bền vững không thay đổi. (3) Hành vi đáp ứng: Là hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành vi ngược lại với sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn. (4) Hành vi trí tuệ: Là hành vi đạt được do hoạt động trí tuệ nhằm nhận thức được bản chất của các mối quan hệ xã hội có quy luật của sự vật hiện tượng để đáp ứng và cải tạo thế giới.
12 Như vậy hành vi của con người là một trong 4 yếu tố dễ nhận thấy để đánh giá năng lực của người đó. Những hành vi của người đó thể hiện ra trong quá trình tiếp xúc, làm việc thể hiện năng lực của họ. Phan tích sự khác biệt giữa Năng lực và Khả năng “Khả năng là cái vốn có (về vật chất hoặc tinh thần) để có thể làm được việc gì” [5]. - ‘Khả năng’ là khái niệm chung đề cập sức lực thực hiện, thi hành một loạt các cam kết phải làm, trách nhiệm phải đảm đương.
Khả năng gồm nhiều loại: trình độ đọc hiểu, nhận biết không gian, tốc độ tri giác, kiến thức (chẳng hạn, về địa lý), và sự phối hợp cơ thể. Mỗi thứ đóng vai trò chức năng làm thuận tiện, dễ dàng trong một số tình huống nhất định. - Dù mỗi tình huống mở ra và kéo theo nhiều khả năng thì năng lực lại không hề bị hạn chế bởi khả năng. Những khía cạnh khác nhau của nhân cách – động cơ thành tựu, vượt thoát sợ hãi, quan niệm cái tôi tích cực đầy thích đáng, kiểm soát xung năng, và một số cái khác – cũng là những năng lực, chúng đóng góp cực kỳ quan trọng trong việc đương đầu, đối phó với nhiều thách thức.3: Bậc thang kiến thức (knowledge staircase) [11] - Theo hình 1.3 bậc thang kiến thức, có thể thấy, “Kiến thức” được đưa vào ứng dụng thực tế (kỹ năng) sẽ tạo ra “Khả năng”.
“Khả năng” kết hợp với động lực và mục đích sẽ tạo ra “Hành động”. “Hành động” đúng sẽ tạo ra kỹ năng.