Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC QUẢN LÝ CÁC PHÒNG CHUYÊN MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Công chức và công chức quản lý 1. Công chức Trong một số tài liệu tham khảo, thuật ngữ công chức được tiếp cận theo rất nhiều cách khác nhau như: - Công chức là người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước. Quan niệm này tiếp cận ở khía cạnh phân biệt công chức với những người làm việc cho nhà nước, trong các tổ chức, cơ quan khác của nhà nước, bằng tính thường xuyên của công vụ.
- Công chức là người đại diện cho nhà nước thực thi quyền hành pháp. Ở cách tiếp cận này hạn chế đối tượng là công chức bởi vì công chức chỉ gắn với quyền lực hành pháp; những người thực thi nhiệm vụ mang tính dịch vụ không thuộc phạm vi công chức. Hay nói khác, công chức chỉ là những người đưa ra quyết định quản lý hành chính nhà nước và triển khai thực hiện các quyết định đó. - Công chức là những người làm chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ.
Như vậy, những đối tượng khác tuy làm việc ở bộ nhưng không trực tiếp làm công tác chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng quản lý của bộ thì không phải là công chức và cũng theo quan niệm về công chức như vậy những người làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương cũng không phải là công chức. - Công chức chỉ là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (Trung ương) mà còn 8 bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của các địa phương (Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hun-ga-ri.) - Khác với quan niệm đã nêu trên, một số nước xác định phạm vi công chức bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tư pháp (Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha.) Với các quan niệm nêu trên cho thấy vẫn còn những câu trả lời khác nhau với câu hỏi ai là công chức trong số những người làm việc tại các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Sự khác nhau này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau; lịch sử tồn tại và phát triển của nền hành chính các quốc gia; điều kiện kinh tế - xã hội mà trên đó pháp luật được hình thành; quan điểm của các nhà lập pháp trong việc đánh giá sử dụng các thành tựu của khoa học pháp lý. - Ngoài ra, còn có thể xác định công chức qua các đặc điểm: Thứ nhất, tính nghề nghiệp.
Tính nghề nghiệp thể hiện ở việc công chức thực hiện thường xuyên một số công vụ theo nghiệp vụ chuyên môn mà công chức đó đảm nhiệm (kế toán, kiểm toán, văn thư.); Thứ hai, tính quan liêu. Tính quan liêu trong thực thi công vụ thể hiện trên các phương diện khác nhau như không phụ thuộc vào bất kỳ một tác động nào khác của chính trị, kinh tế hay dân sự. Công chức thực hiện công vụ theo một quy trình công tác đã được pháp luật xác định và họ không có quyền thay đổi nếu không được pháp luật cho phép; Thứ ba, tính thứ bậc. Công chức được chia thành những bậc hạng khác nhau tùy theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ của công việc và được bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó (ví dụ: Ở Trung Quốc công chức chia thành 15 bậc, cao nhất là Thủ tướng Quốc vụ viện và thấp nhất là cán sự); 9 Thứ tư, được nhà nước trả lương.
Vì công chức thực thi công vụ nhà nước do vậy được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Với đặc điểm này giúp ta phân biệt công chức với những người làm việc ở các doanh nghiệp và khu vực tư nhân hưởng lương không do nhà nước chi trả. Tùy theo quan điểm trong việc xây dựng, phát triển dội ngũ công chức mà mỗi nước có sự nhấn mạnh, chú trọng nhiều hơn đến một trong số các đặc điểm trên theo đó tạo nên sự khác biệt trong quan niệm về công chức. Ví dụ: các nước Pháp, Đức.
coi trọng tính nghề nghiệp của công chức trong khi đó các nước theo chế độ công vụ việc làm như: Anh, Mỹ.không chú trọng nhiều đến đặc điểm này. Sử dụng phương pháp so sánh để xem xét quan niệm về công chức các nước cho thấy: - Phạm vi công chức của Mỹ chỉ là những người thực thi công vụ trong ngành hành chính và không nhấn mạnh đến tính nghề nghiệp của công chức mà coi trọng hơn đến mức độ khả thi khi công chức thực thi công vụ. Khác với Mỹ, Pháp và một số nước khác như Đức, Đan Mạch.quan tâm rất nhiều đến tính nghề nghiệp và xem đó là một chức nghiệp của công chức. Như vậy, tính nghề nghiệp của công chức thể hiện rất đậm nét trong quan niệm của người Pháp, Đức.có phần mờ nhạt hơn trong quan niệm của Anh và gần như không có gì trong quan niệm của Mỹ.
- So sánh các quan niệm về công chức của các nước với nước ta cho thấy chúng ta tổng hợp hơn theo đó phạm vi công chức rộng hơn với cả công chức làm việc chuyên môn nghiệp vụ, công chức trung ương, công chức địa phương, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công và công chức xã. Sự khác biệt căn bản trong quan niệm từ đó đi đến sự khác nhau về phạm vi công chức của các nước so với nước ta còn thể hiện ở chỗ các nước không coi những 10 người làm việc trong các đảng phái và tổ chức phi chính phủ là công chức và theo đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật về công chức. Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm công chức cũng có nhiều thay đổi và điều này được thể hiện trong các văn bản pháp luật của nhà nước như sau: - Theo Sắc lệnh 76/SL những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định (Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950). - Theo Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 quy định đối tượng và phạm vi áp dụng đối với công chức bao gồm: + Những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương.
+ Những người làm việc trong các Đại sứ quán, lãnh sứ quán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. + Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách. + Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng. + Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát các cấp.
+ Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp. Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quy định: 11 - Theo Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003) quy định: “cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: + Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện: + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội; + Thẩm phán Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan chuyên nghiệp; + Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính tri – xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 12 + Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã”. Theo Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ công chức (CBCC) năm 2008 (chính thức có hiệu lực từ 01/1/2010): “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Công chức quản lý Công chức quản lý, được hiểu là công chức nắm giữ các chức vụ quản lý, điều hành trong các cơ quan nhà nước.