Luận án tiến sĩ: Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh cho tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
210
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh (năng lực cạnh tranh) của tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh thị trường hiện đại. Chợ đô thị không chỉ là nơi giao thương mà còn là biểu tượng văn hóa, xã hội của cộng đồng. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các tổ chức cần phải hiểu rõ các yếu tố cấu thành và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Việc phân tích các yếu tố này giúp các tổ chức xác định được điểm mạnh và điểm yếu của mình, từ đó xây dựng chiến lược phù hợp. Theo M. Porter, việc áp dụng mô hình 5 lực cạnh tranh có thể giúp các tổ chức nhận diện được các yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài, từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh.

1.1. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh

Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh bao gồm năng lực tài chính, năng lực nhân sự, năng lực tổ chức và quản trị, năng lực cung cấp dịch vụ, và năng lực marketing. Mỗi yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng và nâng cao vị thế của tổ chức trên thị trường. Năng lực tài chính cho phép tổ chức đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ, trong khi năng lực nhân sự quyết định chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Năng lực tổ chức và quản trị giúp tối ưu hóa quy trình làm việc, trong khi năng lực cung cấp dịch vụ và marketing tạo ra sự khác biệt và thu hút khách hàng. Việc cải thiện các yếu tố này không chỉ giúp tổ chức tăng cường năng lực cạnh tranh mà còn tạo ra lợi thế bền vững trong dài hạn.

II. Thực trạng năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng

Thực trạng năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Các chợ đô thị phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các siêu thị, trung tâm thương mại và các hình thức thương mại hiện đại khác. Theo khảo sát, nhiều chợ truyền thống đang dần mất đi sức hút đối với người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ và những người có thu nhập cao. Điều này cho thấy rằng năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh chợ đô thị cần được cải thiện. Việc đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh thông qua các tiêu chí như vị trí, mặt bằng, cơ sở vật chất, và chất lượng dịch vụ là rất cần thiết. Các tổ chức cần phải có những chiến lược cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh, từ việc cải thiện cơ sở vật chất đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của khách hàng.

2.1. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh

Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Vị trí và mặt bằng của nhiều chợ không còn thuận lợi như trước, dẫn đến việc giảm lượng khách hàng. Cơ sở vật chất của các chợ cũng chưa được đầu tư đúng mức, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Năng lực tài chính của các tổ chức kinh doanh chợ đô thị còn hạn chế, không đủ để đầu tư vào các công nghệ mới và cải thiện dịch vụ. Năng lực nhân sự cũng cần được nâng cao thông qua đào tạo và phát triển kỹ năng. Tất cả những yếu tố này đều ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tổ chức, đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư từ cả phía doanh nghiệp và chính quyền địa phương.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần hoàn thiện môi trường kinh doanh bằng cách cải thiện cơ sở hạ tầng và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hoạt động. Giải pháp thứ hai là tăng cường hợp tác giữa các tổ chức kinh doanh chợ đô thị và các cơ quan quản lý nhà nước để xây dựng chính sách phát triển bền vững. Thứ ba, các tổ chức cần áp dụng công nghệ mới vào quản lý và kinh doanh, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của khách hàng. Cuối cùng, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Các tổ chức cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng cho nhân viên, từ đó tạo ra một đội ngũ nhân sự chất lượng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.

3.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Đề xuất giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh bao gồm việc cải thiện môi trường kinh doanh thông qua quy hoạch chợ đô thị hợp lý, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh phát triển. Cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho các tổ chức kinh doanh chợ đô thị để họ có thể đầu tư vào cơ sở vật chất và công nghệ. Bên cạnh đó, việc tổ chức các chương trình đào tạo cho nhân viên cũng rất cần thiết, nhằm nâng cao kỹ năng phục vụ và quản lý. Cuối cùng, việc xây dựng thương hiệu cho các chợ đô thị cũng là một giải pháp quan trọng, giúp tạo ra sự khác biệt và thu hút khách hàng. Tất cả những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của các đô thị, chợ là bộ phận thiết yếu. Chợ là hình thức biểu hiện của thị trường, là nơi kết nối cung – cầu, đáp ứng nhu cầu của xã hội về sản xuất và tiêu dùng. Ở đây, chợ được hiểu là chợ truyền thống.

Chợ truyền thống tại các đô thị được gọi là chợ đô thị. Chợ đô thị đã có quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời; đến nay đã có được mạng lưới rộng khắp, đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong đời sống của dân cư và sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Cũng như các thực thể khác trong nền kinh tế, chợ đô thị luôn chịu tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển kinh tế thị trường ngày càng mạnh mẽ. Sự phát triển của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước với các hình thức thương mại mới, văn minh và hiện đại, quy mô lớn, trình độ cao đang đặt ra thách thức cạnh tranh rất lớn đối với các chợ truyền thống ở khu vực đô thị.

Cụ thể, chợ đô thị phải cạnh tranh với các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng mặt phố, tiệm tạp hóa, hàng rong và thương mại điện tử. Trong các năm qua, xu hướng lựa chọn của người tiêu dùng về nơi mua sắm đã có sự thay đổi; nhiều người, nhất là người có thu nhập cao, giới trẻ và người làm việc hành chính, văn phòng thường đến siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại hay truy cập các trang web bán hàng trực tuyến để mua hàng thay vì đến chợ truyền thống. Một số chợ truyền thống có dấu hiệu thương nhân kinh doanh sa sút, mặt bằng bên trong chợ sử dụng không hết hoặc kém hiệu quả, người đi chợ giảm hoặc chỉ tập trung vào một số khoảng thời gian trong ngày chứ không liên tục, dàn đều. Tuy vậy, chợ truyền thống nói chung, chợ truyền thống ở đô thị nói riêng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thương mại, thị trường của các địa phương; gắn liền với nó là công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của một bộ phận lớn lao động xã hội và dân cư.

Họ là những người lao động quy mô nhỏ, thu nhập trung bình và thấp, rất nhạy cảm về kinh tế và xã hội. Hơn nữa, chợ là thực thể có tính xã hội, cộng đồng; dịch vụ chợ có tính chất của sản phẩm công cộng. Về khía cạnh văn hóa, xã hội; đại đa số người tiêu dùng ở các đô thị hiện nay vẫn còn giữ thói quen mua sắm hàng hóa ở các chợ truyền thống; khách du lịch cũng rất quan tâm và thích thăm quan, mua sắm ở các chợ địa phương. Việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế là yêu cầu tự nhiên, xác đáng của dân tộc và cư dân địa phương.

Do vậy, chợ truyền thống ở đô thị cần được tiếp tục tồn tại và phát triển. Đòi hỏi này 2 cần được thực hiện không chỉ đơn thuần thông qua các doanh nghiệp mà vai trò của Nhà nước rất quan trọng. Trong môi trường cạnh tranh, chợ đô thị ở thành phố (TP) Đà Nẵng các năm qua đã có những thay đổi tích cực; tuy nhiên, tình trạng kém thu hút thương nhân và khách hàng tham gia hoạt động chợ cũng đã xuất hiện nhiều hơn. Việc quản lý hoạt động của chợ chưa tập trung hướng đến đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tham gia chợ.

Chất lượng dịch vụ của các chợ đô thị chưa đảm bảo, chưa tạo được sự khác biệt và khai thác được những lợi thế so sánh của chợ so với các loại hình thương mại khác. Điều đó phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh (NLCT) của các tổ chức kinh doanh chợ đô thị (TCKDCĐT) và vai trò của Nhà nước trong việc định hướng, ban hành cơ chế, chính sách và thực hiện chức năng quản lý đối với thị trường nói chung, chợ nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao NLCT của các tổ chức kinh doanh chợ là cần thiết, đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tiễn quản lý kinh tế ở khu vực đô thị trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện nay cũng như trong tương lai. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề cạnh tranh đã được đề cập đến trong kinh tế chính trị học cổ điển (từ thế kỷ XIX) bởi Adam Smith, David Ricardo, Cac Mac.

Lúc bấy giờ, cạnh tranh được nghiên cứu với giả thiết là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Các chủ thể kinh tế có thể phát huy lợi thế tuyệt đối hoặc/và lợi thế tương đối (so sánh) để thắng lợi trong cạnh tranh. Đến đầu thế kỷ XX, E. Chamberlin, với tác phẩm “The theory of monopolistic competition” (Lý thuyết cạnh tranh độc quyền, 1933) đã khởi xướng mô hình cạnh tranh độc quyền và trở thành cơ sở lý luận cho tử tưởng cạnh tranh bằng sự khác biệt.

Trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã có một số phát triển về mặt lý thuyết liên quan đến cạnh tranh, nổi bật là mô hình cạnh tranh trong kinh tế học tổ chức (hay tổ chức công nghiệp, IO) được tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành (Structure of industry), sự vận hành hay chiến lược (Conduct/strategy) của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh (Performance) của ngành, còn được gọi là mô hình SCP hay mô hình Bain/Mason (Jose S. Bain, 1956; Edward Mason, 1939). Theo đó, hiệu quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu ngành mà các doanh nghiệp đang hoạt động. Chiến lược của các doanh nghiệp cùng 3 ngành về cơ bản là giống nhau; hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng gần như nhau.

Jay Barney (1986) và M. Porter (1981) gọi đây là hiệu quả kinh doanh ngành. Các lý thuyết và mô hình cạnh tranh gắn với kinh tế học tổ chức chú trọng đến các yếu tố môi trường kinh doanh bên ngoài; chưa đề cập sâu đến yếu tố nội lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Hạn chế này được khắc phục nhờ sự ra đời của lý thuyết về nguồn lực của doanh nghiệp mà đại biểu tiên phong là Birger Wernerfelt với tác phẩm “Resource-based view of the firm” (Quan điểm dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp, 1984).

Nguồn lực là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nguồn lực bao gồm tất cả các tài sản, các năng lực, các quy trình tổ chức, các thuộc tính của doanh nghiệp, thông tin, tri thức… được kiểm soát bởi doanh nghiệp mà cho phép doanh nghiệp nhận ra và thực hiện các chiến lược để cải thiện hiệu quả và hiệu lực của nó (Daft, 1983). Các nguồn lực có thể bao gồm nguồn lực hữu hình như là tài chính, tổ chức, vật chất và công nghệ (J. Baney, 1991) và nguồn lực vô hình như nhân sự, sáng tạo và danh tiếng (R.

Lý thuyết nguồn lực là sự bổ sung cho mô hình IO và mô hình Chamberlin về cạnh tranh. Tuy nhiên, hạn chế của nó là vẫn dựa trên sự cân bằng, không tập trung vào quá trình động của thị trường (Jacobson 1992). Cũng vào những năm cuối thể kỷ XX, M. Porter đã xuất bản các tác phẩm kinh điển như: “Competitive strategy” (Chiến lược cạnh tranh, 1980), “Competitive advantage” (Lợi thế cạnh tranh, 1985) và “Competitive advantage of nations” (Lợi thế cạnh tranh quốc gia, 1990).

Porter đã lý giải một cách tường minh các khái niệm như chiến lược cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và phân tích sâu sắc các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh. Các mô hình phân tích cạnh tranh nổi bật của Porter là mô hình 5 lực cạnh tranh, mô hình chuỗi giá trị và mô hình viên kim cương. Với sự thay đổi lớn trong môi trường cạnh tranh, trên thị trường ngày nay cầu đã có vai trò gây áp lực lên cung; khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, bên cạnh các nghiên cứu nêu trên, lý thuyết marketing đã có ảnh hưởng quan trọng trong nghiên cứu và hoạch định chiến lược cạnh tranh.

Tác giả điển hình và nổi tiếng trong lĩnh vực này là Philip Kotler. Với quan điểm trọng khách hàng, các doanh nghiệp cần dựa vào thị trường, phải hiểu khách hàng và thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng; đó chính là yếu tố quyết định tạo nên thành công trong cạnh tranh. 4 Trên cơ sở các tư tưởng và công trình nghiên cứu nêu trên, trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và quản lý kinh tế đã có nhiều giáo trình được xuất bản làm tài liệu giảng dạy và học tập trong các trường đại học. Có thể nêu ra một số tác giả có uy tín như: Michael A.

Duane Ireland và Robert E. Porter, Philip Kotler. Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, có nhiều bài báo quan trọng viết về lý thuyết nguồn lực, lý thuyết năng lực động và các mô hình nghiên cứu định lượng để đo lường NLCT của doanh nghiệp. Một số bài báo có giá trị học thuật lớn và điển hình như: The Resource – Based Theory of competitive advantage: Implications for strategy fomulation của Robert M.

Grant (1991); Firm Resources and Sustained Competitive Advantage của Barney, J. (1991); The comparative Advantage theory of competition, Shelby D. Morgan (1995); Dynamic Capabilities and Strategic Management, David J. Teece, Gary Pisano and Amy Shuen (1997).

Các bài báo đã cho thấy rằng NLCT của doanh nghiệp trước hết là do các yếu tố nguồn lực bên trong của doanh nghiệp tạo ra, nhưng nguồn lực ấy phải được huy động sao cho có thể phát huy tốt nhất các thế mạnh, khắc phục các điểm yếu đồng thời tận dụng tối đa cơ hội và né tránh được các đe dọa của môi trường bên ngoài, hướng đến thỏa mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng đồng thời phản ứng một cách thích hợp trước các chiến lược, sách lược của đối thủ cạnh tranh để giành chiến thắng. Về các yếu tố nguồn lực tạo nên NLCT, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm nguồn NLCT cốt lõi (core competitive). Những nguồn lực như vậy là yếu tố quyết định tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Khi nghiên cứu về NLCT, khái niệm năng lực động (academic capabilities) đã được đề xuất.

và các cộng sự (1997), năng lực động là khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao năng lực cạnh tranh cho tổ chức kinh doanh chợ đô thị tại Đà Nẵng" tập trung vào việc cải thiện khả năng cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh trong môi trường chợ đô thị. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và thu hút khách hàng. Những lợi ích mà bài viết mang lại cho độc giả bao gồm cái nhìn sâu sắc về thị trường chợ đô thị, cũng như các chiến lược thực tiễn có thể áp dụng để phát triển kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức về năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty cổ phần traphaco trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nơi cung cấp cái nhìn về cách các công ty có thể cải thiện vị thế của mình trong bối cảnh hội nhập. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ kinh tế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành thủy sản trên địa bàn thành phố đà nẵng cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản tại Đà Nẵng. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài fdi trên địa bàn tỉnh hưng yên sẽ mang đến cái nhìn tổng quát về các doanh nghiệp FDI và cách họ cạnh tranh trong thị trường Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực khác nhau.