Luận Án Tiến Sĩ Về Biến Đổi Đô Thị Nam Định: Hình Thành và Thực Trạng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đô thị Nam Định, quá trình hình thành, thực trạng và khuynh hướng biến đổi trong bối cảnh phát triển hiện nay.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Việt Nam học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

268
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan địa bàn thành phố Nam Định

1.2. Vị trí địa lý và sự thay đổi hành chính

1.3. Điều kiện tự nhiên, địa hình

1.4. Nguồn tư liệu

1.5. Khái lược quá trình hình thành và phát triển thành phố Nam Định đến năm 1986

1.6. Thực trạng thành phố Nam Định giai đoạn 1986 - 2018

1.7. Đặc điểm và khuynh hướng biến đổi của đô thị Nam Định

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hình Thành Đô Thị Nam Định

Quá trình biến đổi đô thị Nam Định bắt đầu từ thế kỷ XIII, khi vua Trần Thánh Tông cho xây dựng phủ Thiên Trường. Đây là dấu mốc quan trọng trong việc hình thành đô thị này. Qua các thời kỳ, Nam Định đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính, từ Thiên Trường, Vị Hoàng đến tỉnh Nam Định hiện nay. Sự phát triển của đô thị này không chỉ phản ánh sự thay đổi về mặt hành chính mà còn là sự phát triển về kinh tế, văn hóa và xã hội. Đặc biệt, vào năm 1921, Nam Định được công nhận là thành phố cấp III, đánh dấu bước ngoặt trong quá trình hình thành đô thị hiện đại. Sự phát triển này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và phát triển đô thị hóa trong những thập kỷ tiếp theo.

1.1. Lịch Sử Hình Thành

Lịch sử hình thành đô thị Nam Định gắn liền với sự phát triển của các triều đại phong kiến. Từ thời kỳ đầu, khu vực này đã là trung tâm chính trị và văn hóa quan trọng. Sự ra đời của các cơ sở hạ tầng như chợ, đường phố đã tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. Đến thời Pháp thuộc, Nam Định trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn, với nhiều nhà máy và xí nghiệp được xây dựng. Điều này không chỉ thúc đẩy kinh tế đô thị mà còn làm tăng dân số và sự đa dạng văn hóa trong khu vực.

II. Thực Trạng Đô Thị Nam Định

Từ năm 1986 đến nay, thực trạng đô thị Nam Định đã có nhiều thay đổi đáng kể. Sự chuyển mình này được thể hiện qua việc cải thiện cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, đô thị cũng đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và sự gia tăng dân số. Theo số liệu thống kê, dân số đô thị Nam Định đã tăng lên đáng kể, đạt khoảng 33.548 người vào năm 2019. Điều này cho thấy sự hấp dẫn của đô thị này trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Các chính sách quy hoạch đô thị cần được thực hiện một cách đồng bộ để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.1. Kinh Tế và Xã Hội

Kinh tế Nam Định đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, với sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo những vấn đề xã hội như chênh lệch giàu nghèo và tình trạng thất nghiệp. Các chính sách phát triển đô thị cần chú trọng đến việc cải thiện đời sống người dân, tạo ra việc làm và nâng cao chất lượng giáo dục. Việc xây dựng một đô thị thông minh với các dịch vụ công cộng hiện đại sẽ là một trong những giải pháp quan trọng trong thời gian tới.

III. Khuynh Hướng Phát Triển Đô Thị

Khuynh hướng phát triển đô thị Nam Định trong tương lai sẽ tập trung vào việc xây dựng một đô thị bền vữngthông minh. Các chính sách quy hoạch cần được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng phát triển hiện đại, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử. Việc phát triển các khu vực ngoại thành cũng cần được chú trọng để giảm tải cho khu vực nội thành. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý đô thị sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Dự báo rằng, trong tương lai, Nam Định sẽ trở thành một trung tâm kinh tế - văn hóa quan trọng của vùng đồng bằng sông Hồng.

3.1. Giải Pháp Phát Triển

Để thực hiện các khuynh hướng phát triển, cần có những giải pháp cụ thể như tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Việc xây dựng các chương trình đào tạo nghề cũng rất quan trọng để nâng cao tay nghề cho người lao động, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Các giải pháp này không chỉ giúp Nam Định phát triển mà còn tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho người dân.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu, lịch sử van dé, cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu. Khái lược quá trình hình thành và phát triển thành phố Nam Định đến năm 1986. Thực trạng thành phố Nam Định giai đoạn 1986 — 2018.

Đặc điềm và khuynh hướng biến đôi của đô thị Nam Định. TONG QUAN VE DIA BAN NGHIÊN CỨU, LICH SU VAN DE, CO SO Li THUYET VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. Tổng quan địa bàn thành phố Nam Định 1. Vị trí địa lý và sự thay đổi hành chính Thành phố Nam Định có vị trí địa lý phía đông giáp tỉnh Thái Bình và các huyện Nam Trực, Mỹ Lộc; phía tây giáp các huyện Vụ Bản, Mỹ Lộc; phía nam giáp các huyện Vụ Bản, Nam Trực; phía bắc giáp huyện Mỹ Lộc.

Thời Hùng Vương, vùng đất này là bộ Lục Hải; thời Hán thuộc quận Giao Chi. Các sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược của Khiéu Năng Tĩnh và Đại Nam nhất thong chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết sang tới thời Lý, vùng đất này thuộc lộ Hải Thanh. Đến đời Trần Thái Tông đổi tên là Thiên Thanh. Năm 1262, vua Trần Thánh Tông đổi tên Thiên Thanh thành Thiên Trường.

Khu vực thành phố Nam Định hiện nay với hai cung điện Trùng Quang và Trùng Hoa là thủ phủ của phủ Thiên Trường, được coi là kinh đô thứ hai của vương triều Trần bên cạnh kinh đô Thăng Long. Thời thuộc Minh, vùng đất này thuộc huyện Mỹ Lộc của phủ Phụng Hóa (phủ Thiên Trường đổi ra). Thời vua Lê Thái Tổ thuộc Nam đạo, đến năm 1466 đặt làm Thiên Trường thừa tuyên, năm 1469 gọi là Sơn Nam thừa tuyên. Thời Hồng Đức gọi là xứ Sơn Nam; thời Tây Sơn nơi đây là thủ phủ của trấn Sơn Nam hạ.

Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi tên là tran Nam Định. Trong suốt giai đoạn thé kỷ XVIII-XIX, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, khu vực thành phố Nam Dinh chính là ly sở của trần Sơn Nam Hạ. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), huyện Mỹ Lộc được tách làm 2 là huyện Thượng Nguyên và huyện Mỹ Lộc thuộc phủ Thiên Trường (thời Tự Đức gọi là phủ Xuân Trường) tỉnh Nam Định. Thành phố Nam Định hiện nay là một phần đất của cả hai huyện Thượng Nguyên và Mỹ Lộc.

Thời gian này, huyện Mỹ Lộc có 7 tổng (Đệ Nhất, Như Thức, Mỹ Trọng, Kim Lũ, Cảo Môn, Đông Mặc, Ngũ Trang), địa phận thành phố Nam Định gồm các tổng Đông Mặc, Mỹ Trọng và một phần các tổng Đệ Nhất, Như Thức, Cao Đài. Huyện Thượng Nguyên gồm 5 tổng (Cổ Viễn, Cao Đường, Đồng Phù, Hư Tả, Bách Tính); địa phận thành phố Nam Định gồm có tổng Đồng Phù và một phan tổng Cao Đường. 12 Sách Nam Dinh dia dư chi mục lục của Nguyễn Ôn Ngọc cho biết vào cuối TK XIX, khu vực thành phố Nam Định luôn trong cảnh thuyền bè chật bến, buôn bán tap nap chỉ sau Hà Nội. Lúc này thành phố Nam Định có tổng cộng 12 phố là: VỊ Xuyên, Vĩnh Lại, Đô Xá, Đồng Lạc, Hai Cơ, Cửa Bắc, Vĩnh Ninh, Yên Lạc, Đông Thành, Tả Trường, Định Tĩnh, Năng Tĩnh.

Sau khi chiếm được thành phố Nam Định, thực dân Pháp gap rút xây dựng các cơ sở kinh tế công thương nghiệp. Chính vì vậy, Nam Định nhanh chóng trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của Bắc Kỳ nói riêng, toàn xứ Đông Dương nói chung. Trên cơ sở đó, ngày 17/10/1921, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thành phố Nam Định được hưởng quy chế thành phố cấp III. Sau Cách mạng tháng 8/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945, Nam Định là thành phố đặt dưới quyền cấp kỳ (Bắc BO) và là đơn vị hành chính tương đương và tồn tại song song với tỉnh Nam Định.

Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp tục ký sắc lệnh số 11 về việc tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã lớn. Theo như tinh thần của sắc lệnh mới thì thành phố Nam Định được gọi là thị xã Nam Định và trực thuộc sự quản lý của tỉnh Nam Định và tương đương với các huyện khác trong tỉnh. Tới năm 1950, sáp nhập 4 xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hoà, Lộc Hạ của huyện Mỹ Lộc vào Thị xã Nam Dinh Ngày 3/9/1957 Phủ Thủ tướng đã ban hành nghị định số 405/ TTg sáp nhập thành phố Nam Định vào tỉnh Nam Định và đặt Ủy ban hành chính thành phố Nam Dinh trực thuộc sự chỉ đạo của Ủy ban hành chính tỉnh Nam Định [109]. Ngày 8/8/1964, chuyển 5 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Xá về huyện Mỹ Lộc quản lý.

Năm 1965, hai tỉnh Hà Nam và Nam Định sáp nhập thành tỉnh Nam Hà, thành phố Nam Định trở thành tỉnh ly tỉnh Nam Hà. Ngày 13/6/1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 76/CP về việc sáp nhập toàn bộ huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. 13 Năm 1975, hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh, thành phố Nam Định là tỉnh ly tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 10 phường: Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Tế Xương, Trường Thi, VỊ Xuyên và 15 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Hòa, Mỹ Hưng, Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thắng, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Trung, Mỹ Xá. Ngày 27/4/1977, sáp nhập 9 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Phúc, Mỹ Hưng, Mỹ Trung vào huyện Bình Lục.

Ngày 12/1/1984, sáp nhập 2 xã Mỹ Trung và Mỹ Phúc thuộc huyện Bình Lục vào thành phố Nam Định. Năm 1985, phường Trường Thi được chia thành hai phường là Trường Thi và Văn Miếu; phường Năng Tĩnh thành hai phường Ngô Quyền và Năng Tĩnh; phường Cửa Bắc chia thành Cửa Bắc và Bà Triệu; phường Vị Xuyên thành Vị Xuyên và Vị Hoàng; phường Tran Tế Xương thành Ha Long và Tran Tế Xương. Tháng 8/1991, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành hai tỉnh là Nam Hà và Ninh Bình, thành phô Nam Định là tinh ly của tỉnh Nam Hà. Tháng 11/1996, tỉnh Nam Hà lại tách thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, thành phố Nam Định tiếp tục là tỉnh ly của Nam Định.

Cùng với sự chia tách giữa hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thì đồng thời chuyên 7 xã Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Hà, Mỹ Thịnh, Mỹ Thành, Mỹ Thắng, Mỹ Hưng thuộc huyện Bình Lục về thành phố Nam Định quản lý. Ngày 2/1/1997, tiếp tục sáp nhập hai xã Nam Vân và Nam Phong của huyện Nam Ninh vào thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định lúc này có diện tích tự nhiên 6.760 ha, dân số 263.600 người, được chia thành 25 phường, xã. Ngày 26/2/1997, Chính phủ lại tách 11 xã: Mỹ Trung, Mỹ Hưng, Mỹ Hà, Mỹ Thang, Mỹ Thịnh, Mỹ Tiến, Mỹ Thuận, Mỹ Thành, Mỹ Tân, Lộc Hòa dé tái lập huyện Mỹ Lộc.

Thành phố Nam Định sau khi điều chỉnh địa giới hành chính còn lại 3.887,02 ha diện tích tự nhiên, dân số 232.640 người, được chia thành 15 phường, 6 xã. Ngày 6/9/1997, chuyên xã Lộc Hòa của huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định có 4.545,14 ha diện tích tự nhiên, dân số 240.784 14 người, gồm 15 phường: Hạ Long, Trần Tế Xương, Vị Xuyên, Vị Hoàng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du, Quang Trung, Ngô Quyên, Bà Triệu, Năng Tĩnh, Cửa Bắc, Trần Hưng Đạo, Trường Thi, Văn Miêu, Trần Đăng Ninh và 7 xã: Nam Vân, Nam Phong, Lộc Vượng, Lộc Hạ, Mỹ Xá, Lộc An và Lộc Hoà. Ngày 29/9/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại II.

Ngày 9/1/2004, thành lập phường Lộc Vượng trên cơ sở xã Lộc Vượng; thành lập phường Lộc Hạ trên cơ sở xã Lộc Hạ; thành lập phường Thống Nhất trên cơ sở một phần đất của các xã Lộc Vượng, xã Lộc Hạ, phường Quang Trung và VỊ Hoàng: thành lập phường Cửa Nam trên cơ sở một phần diện tích đất của xã Nam Phong và xã Nam Vân; thành lập phường Trần Quang Khải trên cơ sở một phần diện tích dat của phường Năng Tĩnh. Thành phố Nam Định có 20 phường và 5 xã. Ngày 28/11/2011, Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nam Định. Ngày 16/7/2019, chuyên 2 xã Lộc Hòa và Mỹ Xá thành 2 phường.

Thành phố Nam Định có 22 phường và 3 xã với tổng diện tích 4.641 ha như hiện nay. XÃ MỸ TRUNG XÃ MỸ PHÚC XÃ MỸ TÂN HUYỆN MỸ LỘC XÃ MỸ HUNG XÃ BALAN XÃ TÂN THÀNH HUYỆN NAM TRUC. HUYỆN VỤ BẢN ; CẤU XA NAM TOAN XÃ NGHĨA AN Hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Nam Định (Nguồn: UBND thành phố Nam Định) 15 1.

Điều kiện tự nhiên, địa hình Tinh Nam Định nam giữa hai con sông Hồng và sông Day. Tính chat châu thổ của vùng hạ với những đặc điểm dốc tự nhiên trong tỉnh Nam Định khiến cho sông Hồng tại đây phải phân ra nhiều chi lưu để có thé thoát nước nhanh ra biển, trong đó quan trọng nhất là sông Nam Định (sông Đào), rồi đến sông Ninh Cơ. Sông Dao là sông vận chuyên nước thứ 3 của sông Hồng sau trạm Sơn Tây. Như thế có nghĩa là tỉnh Nam Định chịu sức ép rất lớn của nước sông Hồng và thuỷ triều biên Đông.

Điều này cũng cắt nghĩa tam quan trọng của hệ thống đê sông, đê biển và các dòng sông chỉ chít trong nội đồng. Hệ thống sông ngòi đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử của tỉnh Nam Định nói chung và thành phố Nam Định nói riêng. Không chỉ đóng vai trò cung cấp phù sa mà còn cung cấp nước phục vụ tưới tiêu và giao thông đường thuỷ. Hon nữa, với vị trí gần sông giáp biên, Nam Định có nhiều điều kiện dé phát huy lợi thế kiểm soát vùng cửa sông duyên hải, cửa ngõ của đất nước.

Khu vực thành phố Nam Định hiện nay nằm sát sông Hồng (sông Thái Bình) và được bao bọc bởi hai con sông là sông Đào (sông Nam Định) và sông Vĩnh Giang. Sông Hồng và ngã ba Tuần Vường có thể coi là cửa ngõ đường thuỷ vào Nam Định, có ý nghĩa to lớn không chỉ về quốc phòng mà còn cả trên lĩnh vực kinh tế. Bên cạnh dòng chảy chính, sông Hồng và hệ thống chi lưu chang chit đã san sinh ra một khu vực đất đai phì nhiêu không chỉ cấu tạo nên hình hài của Nam Định như hiện nay mà còn là một trọng những yếu tố hình thành nên lịch sử, văn hiến của cả vùng hạ lưu này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Biến Đổi Đô Thị Nam Định: Hình Thành, Thực Trạng và Khuynh Hướng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình đô thị hóa tại Nam Định, từ những giai đoạn hình thành cho đến thực trạng hiện tại và các xu hướng phát triển trong tương lai. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi đô thị, bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời nêu bật những thách thức mà thành phố đang phải đối mặt. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức quản lý và phát triển đô thị bền vững, từ đó có thể áp dụng vào các bối cảnh tương tự.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các vấn đề liên quan đến phát triển đô thị và chiến lược kinh doanh, hãy tham khảo bài viết "Phát triển thương mại Hà Nội theo hướng văn minh hiện đại đến năm 2020 tầm nhìn 2030", nơi bạn sẽ khám phá các chiến lược phát triển thương mại trong bối cảnh đô thị hóa. Ngoài ra, bài viết "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công tại TP.HCM" cũng sẽ cung cấp những giải pháp thiết thực cho việc quản lý đầu tư trong các dự án đô thị. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Đô thị hóa thành phố Trà Vinh: Thực trạng và định hướng" để có cái nhìn tổng quát hơn về quá trình đô thị hóa tại các thành phố khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các xu hướng phát triển đô thị hiện nay.