Chương 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu, lịch sử van dé, cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu. Khái lược quá trình hình thành và phát triển thành phố Nam Định đến năm 1986. Thực trạng thành phố Nam Định giai đoạn 1986 — 2018.
Đặc điềm và khuynh hướng biến đôi của đô thị Nam Định. TONG QUAN VE DIA BAN NGHIÊN CỨU, LICH SU VAN DE, CO SO Li THUYET VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. Tổng quan địa bàn thành phố Nam Định 1. Vị trí địa lý và sự thay đổi hành chính Thành phố Nam Định có vị trí địa lý phía đông giáp tỉnh Thái Bình và các huyện Nam Trực, Mỹ Lộc; phía tây giáp các huyện Vụ Bản, Mỹ Lộc; phía nam giáp các huyện Vụ Bản, Nam Trực; phía bắc giáp huyện Mỹ Lộc.
Thời Hùng Vương, vùng đất này là bộ Lục Hải; thời Hán thuộc quận Giao Chi. Các sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược của Khiéu Năng Tĩnh và Đại Nam nhất thong chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết sang tới thời Lý, vùng đất này thuộc lộ Hải Thanh. Đến đời Trần Thái Tông đổi tên là Thiên Thanh. Năm 1262, vua Trần Thánh Tông đổi tên Thiên Thanh thành Thiên Trường.
Khu vực thành phố Nam Định hiện nay với hai cung điện Trùng Quang và Trùng Hoa là thủ phủ của phủ Thiên Trường, được coi là kinh đô thứ hai của vương triều Trần bên cạnh kinh đô Thăng Long. Thời thuộc Minh, vùng đất này thuộc huyện Mỹ Lộc của phủ Phụng Hóa (phủ Thiên Trường đổi ra). Thời vua Lê Thái Tổ thuộc Nam đạo, đến năm 1466 đặt làm Thiên Trường thừa tuyên, năm 1469 gọi là Sơn Nam thừa tuyên. Thời Hồng Đức gọi là xứ Sơn Nam; thời Tây Sơn nơi đây là thủ phủ của trấn Sơn Nam hạ.
Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi tên là tran Nam Định. Trong suốt giai đoạn thé kỷ XVIII-XIX, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, khu vực thành phố Nam Dinh chính là ly sở của trần Sơn Nam Hạ. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), huyện Mỹ Lộc được tách làm 2 là huyện Thượng Nguyên và huyện Mỹ Lộc thuộc phủ Thiên Trường (thời Tự Đức gọi là phủ Xuân Trường) tỉnh Nam Định. Thành phố Nam Định hiện nay là một phần đất của cả hai huyện Thượng Nguyên và Mỹ Lộc.
Thời gian này, huyện Mỹ Lộc có 7 tổng (Đệ Nhất, Như Thức, Mỹ Trọng, Kim Lũ, Cảo Môn, Đông Mặc, Ngũ Trang), địa phận thành phố Nam Định gồm các tổng Đông Mặc, Mỹ Trọng và một phần các tổng Đệ Nhất, Như Thức, Cao Đài. Huyện Thượng Nguyên gồm 5 tổng (Cổ Viễn, Cao Đường, Đồng Phù, Hư Tả, Bách Tính); địa phận thành phố Nam Định gồm có tổng Đồng Phù và một phan tổng Cao Đường. 12 Sách Nam Dinh dia dư chi mục lục của Nguyễn Ôn Ngọc cho biết vào cuối TK XIX, khu vực thành phố Nam Định luôn trong cảnh thuyền bè chật bến, buôn bán tap nap chỉ sau Hà Nội. Lúc này thành phố Nam Định có tổng cộng 12 phố là: VỊ Xuyên, Vĩnh Lại, Đô Xá, Đồng Lạc, Hai Cơ, Cửa Bắc, Vĩnh Ninh, Yên Lạc, Đông Thành, Tả Trường, Định Tĩnh, Năng Tĩnh.
Sau khi chiếm được thành phố Nam Định, thực dân Pháp gap rút xây dựng các cơ sở kinh tế công thương nghiệp. Chính vì vậy, Nam Định nhanh chóng trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của Bắc Kỳ nói riêng, toàn xứ Đông Dương nói chung. Trên cơ sở đó, ngày 17/10/1921, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thành phố Nam Định được hưởng quy chế thành phố cấp III. Sau Cách mạng tháng 8/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945, Nam Định là thành phố đặt dưới quyền cấp kỳ (Bắc BO) và là đơn vị hành chính tương đương và tồn tại song song với tỉnh Nam Định.
Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp tục ký sắc lệnh số 11 về việc tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã lớn. Theo như tinh thần của sắc lệnh mới thì thành phố Nam Định được gọi là thị xã Nam Định và trực thuộc sự quản lý của tỉnh Nam Định và tương đương với các huyện khác trong tỉnh. Tới năm 1950, sáp nhập 4 xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hoà, Lộc Hạ của huyện Mỹ Lộc vào Thị xã Nam Dinh Ngày 3/9/1957 Phủ Thủ tướng đã ban hành nghị định số 405/ TTg sáp nhập thành phố Nam Định vào tỉnh Nam Định và đặt Ủy ban hành chính thành phố Nam Dinh trực thuộc sự chỉ đạo của Ủy ban hành chính tỉnh Nam Định [109]. Ngày 8/8/1964, chuyển 5 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Xá về huyện Mỹ Lộc quản lý.
Năm 1965, hai tỉnh Hà Nam và Nam Định sáp nhập thành tỉnh Nam Hà, thành phố Nam Định trở thành tỉnh ly tỉnh Nam Hà. Ngày 13/6/1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 76/CP về việc sáp nhập toàn bộ huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. 13 Năm 1975, hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh, thành phố Nam Định là tỉnh ly tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 10 phường: Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Tế Xương, Trường Thi, VỊ Xuyên và 15 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Hòa, Mỹ Hưng, Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thắng, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Trung, Mỹ Xá. Ngày 27/4/1977, sáp nhập 9 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Phúc, Mỹ Hưng, Mỹ Trung vào huyện Bình Lục.
Ngày 12/1/1984, sáp nhập 2 xã Mỹ Trung và Mỹ Phúc thuộc huyện Bình Lục vào thành phố Nam Định. Năm 1985, phường Trường Thi được chia thành hai phường là Trường Thi và Văn Miếu; phường Năng Tĩnh thành hai phường Ngô Quyền và Năng Tĩnh; phường Cửa Bắc chia thành Cửa Bắc và Bà Triệu; phường Vị Xuyên thành Vị Xuyên và Vị Hoàng; phường Tran Tế Xương thành Ha Long và Tran Tế Xương. Tháng 8/1991, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành hai tỉnh là Nam Hà và Ninh Bình, thành phô Nam Định là tinh ly của tỉnh Nam Hà. Tháng 11/1996, tỉnh Nam Hà lại tách thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, thành phố Nam Định tiếp tục là tỉnh ly của Nam Định.
Cùng với sự chia tách giữa hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thì đồng thời chuyên 7 xã Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Hà, Mỹ Thịnh, Mỹ Thành, Mỹ Thắng, Mỹ Hưng thuộc huyện Bình Lục về thành phố Nam Định quản lý. Ngày 2/1/1997, tiếp tục sáp nhập hai xã Nam Vân và Nam Phong của huyện Nam Ninh vào thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định lúc này có diện tích tự nhiên 6.760 ha, dân số 263.600 người, được chia thành 25 phường, xã. Ngày 26/2/1997, Chính phủ lại tách 11 xã: Mỹ Trung, Mỹ Hưng, Mỹ Hà, Mỹ Thang, Mỹ Thịnh, Mỹ Tiến, Mỹ Thuận, Mỹ Thành, Mỹ Tân, Lộc Hòa dé tái lập huyện Mỹ Lộc.
Thành phố Nam Định sau khi điều chỉnh địa giới hành chính còn lại 3.887,02 ha diện tích tự nhiên, dân số 232.640 người, được chia thành 15 phường, 6 xã. Ngày 6/9/1997, chuyên xã Lộc Hòa của huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định có 4.545,14 ha diện tích tự nhiên, dân số 240.784 14 người, gồm 15 phường: Hạ Long, Trần Tế Xương, Vị Xuyên, Vị Hoàng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du, Quang Trung, Ngô Quyên, Bà Triệu, Năng Tĩnh, Cửa Bắc, Trần Hưng Đạo, Trường Thi, Văn Miêu, Trần Đăng Ninh và 7 xã: Nam Vân, Nam Phong, Lộc Vượng, Lộc Hạ, Mỹ Xá, Lộc An và Lộc Hoà. Ngày 29/9/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại II.
Ngày 9/1/2004, thành lập phường Lộc Vượng trên cơ sở xã Lộc Vượng; thành lập phường Lộc Hạ trên cơ sở xã Lộc Hạ; thành lập phường Thống Nhất trên cơ sở một phần đất của các xã Lộc Vượng, xã Lộc Hạ, phường Quang Trung và VỊ Hoàng: thành lập phường Cửa Nam trên cơ sở một phần diện tích đất của xã Nam Phong và xã Nam Vân; thành lập phường Trần Quang Khải trên cơ sở một phần diện tích dat của phường Năng Tĩnh. Thành phố Nam Định có 20 phường và 5 xã. Ngày 28/11/2011, Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nam Định. Ngày 16/7/2019, chuyên 2 xã Lộc Hòa và Mỹ Xá thành 2 phường.
Thành phố Nam Định có 22 phường và 3 xã với tổng diện tích 4.641 ha như hiện nay. XÃ MỸ TRUNG XÃ MỸ PHÚC XÃ MỸ TÂN HUYỆN MỸ LỘC XÃ MỸ HUNG XÃ BALAN XÃ TÂN THÀNH HUYỆN NAM TRUC. HUYỆN VỤ BẢN ; CẤU XA NAM TOAN XÃ NGHĨA AN Hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Nam Định (Nguồn: UBND thành phố Nam Định) 15 1.
Điều kiện tự nhiên, địa hình Tinh Nam Định nam giữa hai con sông Hồng và sông Day. Tính chat châu thổ của vùng hạ với những đặc điểm dốc tự nhiên trong tỉnh Nam Định khiến cho sông Hồng tại đây phải phân ra nhiều chi lưu để có thé thoát nước nhanh ra biển, trong đó quan trọng nhất là sông Nam Định (sông Đào), rồi đến sông Ninh Cơ. Sông Dao là sông vận chuyên nước thứ 3 của sông Hồng sau trạm Sơn Tây. Như thế có nghĩa là tỉnh Nam Định chịu sức ép rất lớn của nước sông Hồng và thuỷ triều biên Đông.
Điều này cũng cắt nghĩa tam quan trọng của hệ thống đê sông, đê biển và các dòng sông chỉ chít trong nội đồng. Hệ thống sông ngòi đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử của tỉnh Nam Định nói chung và thành phố Nam Định nói riêng. Không chỉ đóng vai trò cung cấp phù sa mà còn cung cấp nước phục vụ tưới tiêu và giao thông đường thuỷ. Hon nữa, với vị trí gần sông giáp biên, Nam Định có nhiều điều kiện dé phát huy lợi thế kiểm soát vùng cửa sông duyên hải, cửa ngõ của đất nước.
Khu vực thành phố Nam Định hiện nay nằm sát sông Hồng (sông Thái Bình) và được bao bọc bởi hai con sông là sông Đào (sông Nam Định) và sông Vĩnh Giang. Sông Hồng và ngã ba Tuần Vường có thể coi là cửa ngõ đường thuỷ vào Nam Định, có ý nghĩa to lớn không chỉ về quốc phòng mà còn cả trên lĩnh vực kinh tế. Bên cạnh dòng chảy chính, sông Hồng và hệ thống chi lưu chang chit đã san sinh ra một khu vực đất đai phì nhiêu không chỉ cấu tạo nên hình hài của Nam Định như hiện nay mà còn là một trọng những yếu tố hình thành nên lịch sử, văn hiến của cả vùng hạ lưu này.