CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1.1 Đô thị Đô thị được xem là nơi tập trung dân cư sinh sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp. Đô thị là tên gọi chung của thành phố, thị xã, thị trấn. Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đô thị: Theo Liên Hợp Quốc: “Các điểm dân cư có quy mô dân số trên 20.000 dân và trên 70% dân số phi nông nghiệp được coi là đô thị”. Khái niệm đô thị của Liên Hợp Quốc chú trọng tính chất sản xuất, cho rằng đô thị đối lập với nông thôn và đô thị là điểm tập trung đông dân.
Những vấn đề về chức năng đô thị, kiến trúc đô thị… chưa thể hiện được trong khái niệm này. Theo Bách khoa toàn thư của Liên Xô, khái niệm đô thị đã được chú ý đến chức năng đô thị: “Đô thị là một khu dân cư rộng lớn. Dân cư ở đây hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong lĩnh vực quản lí khoa học và văn hóa”. Theo Nguyễn Đức Mậu (1962): “Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao.
Người dân ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp. Đô thị phải có kiến trúc theo một lối riêng biệt, khác hẳn với nông thôn để thỏa mãn sự tập trung cao (vận tải, điện nước, các công trình công cộng…)”. Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, ở nước ta một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau: - Chức năng đô thị : Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. - Quy mô dân số đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên.
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn. - Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. - Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kĩ thuật: 12 + Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; + Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững. - Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lí kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên.
Như vậy, có thể hiểu đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của một vùng lãnh thổ của một tỉnh, một huyện hay cả nước. Tuy nhiên, các quan niệm đô thị chưa hoàn toàn thống nhất giữa các quốc gia, các tác giả vì đô thị là sản phẩm của nhân loại có sự biến đổi mạnh mẽ theo không gian và thời gian. Đô thị phản ánh trình độ phát triển KT – XH của các quốc gia, các xã hội phát triển. Như vậy khái niệm nhận biết đô thị thay đổi theo thời gian và không gian.
Đô thị hóa Đô thị hóa theo tiếng anh là Urbanization: là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm quần cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Trong giai đoạn đầu, đô thị hóa được hiểu theo nghĩa hẹp là “Quá trình biến nông thôn thành đô thị”, sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống KT – XH. Tuy nhiên không nên đồng nhất đô thị hóa với sự tăng số lượng các đô thị, tăng quy mô dân số đô thị cũng như ảnh hưởng của nó đối với các vùng xung quanh mà còn phải chú ý đến những thay đổi mang tính chất đa dạng về mặt KT – XH của quá trình này gắn liền với sự phát triển công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và sự phân bố dân cư, phân bố sản xuất. Đô thị hóa đã chuyển hóa sự phân bố dân cư phân tán ở các các vùng nông thôn sang dạng phân bố dân cư tập trung ở các đô thị gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, làm cho vai trò của các ngành dịch vụ tăng lên, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đối với nền KT – XH thế giới, làm cho tỉ lệ dân cư sống trong các đô thị ngày càng tăng lên.
13 Đô thị hóa cũng không ngừng làm thay đổi cách ứng xử và thái độ của con người đối với thiên nhiên, cũng như làm thay đổi lối sống, cách sinh hoạt của chính bản thân con người trong đô thị. Theo nghĩa rộng đô thị hóa được hiểu với nội dung sau: - Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị), hình thành và phát triển đô thị mới. - Quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn. - Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị theo chiều rộng, chiều cao và chiều sâu.
- Quá trình phổ biến lối sống đô thị. - Quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị. [47-48, 16] Đô thị hóa là hiện tượng KT – XH liên quan đến những dịch chuyển kinh tế - xã hội – văn hóa sâu sắc gắn liền với những tiến bộ khoa học – kĩ thuật tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, sự chuyển đổi nghề nghiệp và hình thành các nghề nghiệp mới đồng thời tạo ra nhu cầu dịch cư vào các trung tâm đô thị, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế làm điểm tựa cho các thay đổi trong đời sống xã hội và văn hóa, nâng cao mức sống biến đổi lối sống và hình thức giao tiếp xã hội… làm nền cho một sự phân bố dân cư hợp lý nhằm đáp ứng những nhu cầu xã hội ngày càng phong phú và đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi trường xây dựng, môi trường xã hội và môi trường thiên nhiên. Những biểu hiện cơ bản của đô thị hóa 1.
Tỉ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh Bảng 1. Dân số đô thị và tỉ lệ dân số đô thị thế giới Dân số đô thị thế giới Tỉ lệ dân số đô thị thế giới Năm (triệu người) (%) Đầu TK 19 29,3 3,0 Đầu TK 20 222,4 13,6 1950 706,4 29,2 1970 1.252,1 67,2 (Nguồn: Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình năm 2011) Từ khi đô thị xuất hiện đến nay, số dân thành thị liên tục tăng lên với tốc độ nhanh. Đầu thế kỉ 19, toàn thế giới mới có 29,3 triệu dân thành thị, chiếm khoảng 3% số dân toàn cầu. Bước sang thế kỉ 20, con số này đã lên tới 222,4 triệu, chiếm 13,6% dân số thế giới.
Vào năm 1950 số dân thành thị đã đạt 706,4 triệu, chiếm 29,2% dân số hành tinh. Đến năm 2010 dân số đô thị đã chiếm 3.558,6 triệu người, tăng 2.852,2 triệu người so với năm 1950 chỉ trong vòng 60 năm, đưa tỉ lệ dân số đô thị thế giới lên 51,6%. Dự báo đến năm 2020 dân số đô thị Thế giới chiếm 4.289,8 triệu người, năm 2050 là 6.252,1 triệu người, tăng 2.693,5 triệu người so với năm 2010 và tỉ lệ dân số ở đô thị chiếm 67,2%. Như vậy, dân số đô thị ngày càng tăng lên trên phạm vi toàn cầu cả về số lượng tuyệt đối và tương đối, làm cho tỉ lệ dân số đô thị ngày càng tăng lên, số người sống trong các đô thị tăng lên nhanh chóng.
Dân cư tập trung vào các đô thị lớn và cực lớn Bảng 1. Danh mục 15 đô thị lớn nhất thế giới (người) (Xếp thứ tự theo quy mô dân số) TT Tên đô thị Nước Dân số Ghi chú 1 Tôkyô Nhật Bản 34.000 Bao gồm:Yokohama, Kawasaki, Saitama. 2 Quảng Châu Trung Quốc 26.000 Bao gồm: Đông Quan, Phật Sơn, Giang Môn, Trung Sơn.000 Bao gồm:Bekasi, Bogor, Depok, Tangerang, Tangerang Selatan. 4 Thượng hải Trung Quốc 25.000 Bao gồm: Tô Châu.
5 Xêun Hàn Quốc 25.000 Bao gồm:Bucheon, Goyang, Incheon, Seongnam, Suweon. 6 Mêhicô City Mexico 23.000 Bao gồm:Nezahualcóyotl, Ecatepec, Naucalpan.000 Bao gồm:Faridabad, Ghaziabad, Gurgaon.000 Bao gồm:Kalookan, Quezon City. 10 New York Hoa Kỳ 21.000 Bao gồm:Bridgeport, Newark, New Haven. 11 Sao Paulo Brazil 21.000 Bao gồm: Guarulhos.000 Bao gồm:Bhiwandi, Kalyan, Thane, Ulhasnagar, Vasai-Virar.
13 Los Angeles Hoa Kỳ 17.000 Bao gồm:Anaheim, Riverside. 15 14 Ôsaka Nhật Bản 16.000 Bao gồm:Kobe, Kyoto 15 Bắc Kinh Trung Quốc 16.000 (Nguồn: The principal agglomerations of the world, 01/01/2013) Dân số đô thị thế giới tăng nhanh, đặc biệt tại các đô thị lớn. Số đô thị lớn và cực lớn từ đó cũng gia tăng mạnh mẽ. Trong vòng 50 năm từ đầu đến giữa thế kỉ 20, số đô thị (từ 10 vạn dân trở lên) tăng từ 360 đến 962, số dân đó tăng 5,5% lên 16,2% tổng số dân thế giới, còn số đô thị triệu dân mới có 75.
Đến năm 1970, số dân của các đô thị 10 vạn dân chiếm 23,8% toàn bộ dân thế giới và số đô thị triệu dân tăng lên 162 chiếm 31% tổng số dân đô thị thế giới. Tính đến 01/01/2013 số đô thị triệu dân trở lên là 498, tăng 336 đô thị so với năm 1970. Những đô thị có quy mô dân số từ 10 triệu trở lên có tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt ở khu vực đang phát triển. Năm 1950 chỉ có New York của Hoa Kỳ là có quy mô dân số trên 10 triệu.
Một thập niên sau đó có thêm Tôkyô của Nhật Bản. Năm 1975 cả thế giới đã có 5 đô thị siêu lớn trong đó có 2 ở châu Mỹ La Tinh (Mêhicô City, Sao Paulo), 1 ở Bắc Mỹ (New York) và 2 ở châu Á (Tôkyô, Thượng hải).