CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC KHOẢN THUẾ PHÁT SINH TỪ ĐẤT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ PHÁT SINH TỪ ĐẤT 1. Cơ sở lý luận về đất đai 1. Khái niệm về đất đai Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đất đai là điều kiện vất chất mà trong sản xuất và sinh hoạt đều cần tới.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hóa khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai. Luật đất đai năm 1993 có ghi: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng. Trải qua nhiều thê hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay." [27] Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất của mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người.
Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niện về đất đai là vô cùng cần thiết. Định nghĩa đất đai : Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm : Không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai”.[34] Tuy nhiên đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio 5 de Janerio, Brazil (1993), thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá , nhà cửa. Như vậy đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, mặt nước, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang-trên mặt đất ( là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. Phân loại đất Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: 1.
Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, 6 nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; 2. Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan; c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; d) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; đ) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; g) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; h) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; k) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở; 3. Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử 7 dụng. Đặc điểm cơ bản của đất đai Đất đai có những đặc điểm sau đây: - Tính chất cố định vị trí: Đất đai không thể di dời từ nơi này sang nơi khác.
Đất đai luôn cố định về vị trí, về địa điểm và không thể chuyển dời. - Tính không mở rộng đáng kể về diện tích: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các tư liệu sản xuất ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, đất đai là yếu tố do thiên nhiên quyết định. Trong một khoảng thời gian ngắn vài năm, vài chục năm, thì ta có thể thấy đất đai không tăng lên đáng kể về diện tích.
Nó bị giới hạn về diện tích. Sự can thiệp của con người vào đất đai cũng không làm tăng đáng kể về diện tích. - Chính sách pháp luật của Nhà nước chi phối mạnh mẽ giá cả và cung cầu của đất đai. Quan điểm về sở hữu và các chế độ chính sách và pháp luật của Nhà nước như: Luật đất đai, các sắc thuế trong lĩnh vực đất đai và định hướng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của Nhà nước có tác động mạnh mẽ lên nhu cầu sử dụng đất đai.
Vai trò của đất đai Đất đai đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất và đời sống con người. Đất đai là tài nguyên lớn nhất của mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất vô cùng đặc biệt, là nơi phân bổ dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, giáo dục, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh của mọi quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai là một loại hàng hoá đặc biệt và trở thành yếu tố cơ bản không thể thiếu trong quá trình sản xuất và đời sống xã hội. Bên cạnh đó, đất đai đặc biệt còn mang giá trị lịch sử - xã hội; gắn liền với lãnh thổ của một quốc gia.
Trước khi trở thành hàng hoá đặc biệt thì đất đai đã là tài nguyên đặc biệt, bởi lẽ đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật của tự nhiên dành cho con người và là thành quả do tác động cải tạo, khai phá của con người. Tính chất đặc biệt của đất đai thể hiện ở tính chất tự nhiên, tính chất kinh tế xã hội 8 hòa quyện vào nhau. Nếu không có nguồn gốc tự nhiên, thì con người dù có tài giỏi đến đâu cũng không tự mình tạo ra đất đai được. Con người có thể tạo ra ô tô, xe máy, xây dựng các công trình kiến trúc nhưng con người không thể tạo ra được đất đai.
Đất đai là cơ sở đầu tiên, khởi nguồn cho các hoạt động sản xuất của con người. Ngày nay, với sự phát triển tiến bộ của khoa học, công nghệ và kỹ thuật, các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống con người là rất đa dạng và phong phú, song nhu cầu về các sản phẩm được tạo ra từ đất vẫn không hề giảm mà không ngừng tăng lên như nhu cầu về sản phẩm nông, lâm nghiệp và xây dựng. Đồng thời, cùng sự gia tăng nhanh chóng của dân số, nhu cầu về chỗ ở cũng ngày một tăng thì nguồn tài nguyên về đất lại càng trở nên quan trọng trong đời sống con người hơn bao giờ hết. Đất đai là nền tảng để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cơ sở sản xuất kinh doanh và đảm bảo chính trị, an ninh, quốc phòng quốc gia.
Kinh tế ngày càng phát triển đặt ra yêu cầu quản lý về đất đai ngày càng cao. Đồng thời, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại với kết cấu hạ tầng ngày càng mở rộng. Tất cả các yêu cầu này đều không thực hiện được nếu không có đất. Đất đai là nền móng để xây dựng cầu công, đường xá, sân bay, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, trung tâm mua sắm, doanh trại quân đội, cơ sở an ninh quốc phòng.
để phát triển kinh tế và phục vụ đời sống của con người. Cơ sở lý luận quản lý thuế phát sinh từ đất 1. Khái niệm quản lý thu thuế phát sinh từ đất Các khoản thuế phát sinh từ đất là hệ thống các khoản thu ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thu về thuế và các khoản thu khác liên quan đến quá trình quản lý đất đai của Nhà nước, sử dụng đất đai của tổ chức cá nhân.