Tổng quan nghiên cứu

Năm 2014, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đạt mốc 28.069,6 tỷ đồng, xếp thứ 4 trên toàn quốc nhờ sự đóng góp chủ lực từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất với quy mô vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD, đáp ứng gần 40% nhu cầu xăng dầu cả nước. Tuy nhiên, sự tăng trưởng vượt bậc này lại che lấp những hạn chế cơ bản trong cơ cấu kinh tế nội tại. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của địa phương chứng kiến sự trồi sụt rõ rệt, từ vị trí thứ 7 toàn quốc với 62,5 điểm vào năm 2009 tụt xuống vị trí thứ 55 với 52,21 điểm vào năm 2012. Thực trạng này phản ánh năng lực cạnh tranh của tỉnh còn thiếu bền vững, môi trường đầu tư kinh doanh bộc lộ nhiều điểm nghẽn và chưa tạo được tác động lan tỏa từ các dự án công nghiệp nặng trọng điểm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá một cách toàn diện các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của địa phương, vượt ra khỏi giới hạn của các chỉ số đo lường hành chính đơn thuần. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm xác lập khung phân tích phù hợp cho cấp tỉnh, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Quảng Ngãi giai đoạn 2005 - 2015, chỉ rõ điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh đến năm 2025.

Không gian nghiên cứu tập trung tại tỉnh Quảng Ngãi trong mối tương quan so sánh với các địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung như Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học giúp tỉnh chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ dựa vào khai thác tài nguyên và vốn đầu tư công sang mô hình dựa trên hiệu quả năng suất, thúc đẩy tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 19,4% năm 2016 lên mức bình quân chung của cả nước và định hình cụm liên kết ngành công nghiệp - dịch vụ bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận năng lực cạnh tranh địa phương dựa trên nền tảng khung lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia và Mô hình kim cương của Michael E. Porter, kết hợp khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương do Vũ Thành Tự Anh hiệu chỉnh. Theo đó, năng lực cạnh tranh của một tỉnh không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên sẵn có mà được cấu thành từ ba tầng bậc chính: các yếu tố sẵn có (vị trí địa lý, tài nguyên, quy mô); năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thể chế điều hành); và năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, chiến lược doanh nghiệp, trình độ phát triển cụm ngành).

Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết Cụm liên kết ngành nhằm phân tích mối quan hệ tương hỗ và sự lan tỏa công nghệ giữa các hạt nhân kinh tế trung tâm và mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh. Để đo lường các động lực tăng trưởng nội tại, luận văn áp dụng mô hình phân rã dịch chuyển cấu phần năng suất của Jan Fagerberg nhằm tách biệt ba thành phần: hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng dịch chuyển tĩnh và hiệu ứng dịch chuyển động. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: năng suất lao động, cụm liên kết ngành, môi trường kinh doanh cấp tỉnh và hiệu quả quản trị công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2005 - 2016 từ Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, Tổng cục Thống kê, Cục Thuế, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và cơ sở dữ liệu khảo sát thường niên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với cỡ mẫu khảo sát từ 100 đến 250 doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tỉnh mỗi năm. Phương pháp chọn mẫu của cơ sở dữ liệu PCI kết hợp ngẫu nhiên phân tầng theo ngành nghề và quy mô vốn nhằm đảm bảo tính đại diện cao.

Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh chuỗi thời gian và không gian được lựa chọn nhằm làm rõ các biến động của các đại lượng kinh tế như GRDP, cơ cấu vốn đầu tư, kim ngạch xuất nhập khẩu. Việc lựa chọn mô hình phân rã Jan Fagerberg nhằm định lượng chính xác sự đóng góp của năng suất lao động theo từng khu vực kinh tế, khắc phục nhược điểm của các phân tích tăng trưởng định tính truyền thống. Timeline nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 10/2016 đến tháng 03/2018, xử lý chuỗi số liệu kinh tế - xã hội xuyên suốt 11 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh biến động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ hoạt động của Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Giai đoạn 2006 - 2010, GRDP bình quân đạt 18,7%/năm nhờ việc đưa nhà máy vào vận hành thử năm 2009 và vận hành thương mại năm 2010. Tuy nhiên, giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân chậm lại ở mức 7,8%/năm, tương đương mức tăng trưởng bình quân 7,5% của Vùng duyên hải miền Trung. Cơ cấu công nghiệp - xây dựng tăng vọt từ 36,21% năm 2008 lên 59,43% năm 2010, đạt đỉnh 63,46% năm 2013 nhưng sụt giảm còn 56,81% vào năm 2015 do giá dầu thô thế giới giảm sâu gần 40%.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực thấp tạo thành rào cản lớn đối với năng suất. Năng suất lao động bình quân đầu người tăng từ 31,1 triệu đồng năm 2010 lên 59,6 triệu đồng năm 2016 (tăng 28,5 triệu đồng). Tuy nhiên, năng suất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ bằng khoảng 25% khu vực công nghiệp và 50% khu vực dịch vụ. Đáng chú ý, có tới 80,6% lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật vào năm 2016.

Thứ ba, sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp còn mất cân đối. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chiếm khoảng 3% tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh vào cuối năm 2016. Môi trường kinh doanh thiếu ổn định, phản ánh qua các điểm số thành phần của PCI như tiếp cận đất đai, tính minh bạch và chi phí không chính thức thường xuyên ở mức thấp so với các tỉnh lân cận.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ sự hình thành tâm lý ỷ lại vào nguồn thu đột biến từ dự án lọc hóa dầu, dẫn đến sự chậm trễ trong cải cách thể chế và thiếu chiến lược đa dạng hóa cơ cấu sản xuất. Khi so sánh với tỉnh Quảng Nam, địa phương đã xây dựng thành công cụm ngành ô tô Chu Lai với hơn 23 nhà máy đóng góp trên 60% ngân sách tỉnh và thu hút hơn 10.000 lao động kỹ thuật cao, Quảng Ngãi vẫn chưa hình thành được hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ đồng bộ quanh hạt nhân Dung Quất.

Qua biểu đồ phân rã năng suất lao động giai đoạn 2010 - 2016 theo mô hình Jan Fagerberg, kết quả tính toán cho thấy trong mức tăng 28,5 triệu đồng năng suất lao động toàn nền kinh tế, hiệu ứng nội ngành đóng góp lớn nhất với 15,5 triệu đồng (chiếm 54,4%), hiệu ứng dịch chuyển tĩnh đóng góp 12,35 triệu đồng, trong khi hiệu ứng dịch chuyển động chỉ đóng góp 1,02 triệu đồng. Điều này khẳng định việc nâng cao năng lực cạnh tranh không thể chỉ dựa vào dịch chuyển cơ học lao động giữa các khu vực mà phải tập trung đổi mới công nghệ và nâng cấp kỹ năng ngay trong từng ngành sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư cần công khai, minh bạch quy trình cấp phép, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đăng ký kinh doanh và tiếp cận đất đai từ 30% đến 40% trong giai đoạn 2018 - 2022, phấn đấu đưa chỉ số PCI của tỉnh duy trì vững chắc trong nhóm 15 tỉnh dẫn đầu cả nước.

Thứ hai, tập trung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các trường đại học, cao đẳng và doanh nghiệp trọng điểm như Doosan Vina, VSIP Quảng Ngãi để thiết lập các trung tâm đào tạo nghề chuyên sâu. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 19,4% lên 45% vào năm 2025, ưu tiên các ngành cơ khí chính xác, vận hành lọc hóa dầu và dịch vụ hậu cần cảng biển.

Thứ ba, phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp lấy Khu kinh tế Dung Quất làm trung tâm. Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp cần ban hành chính sách ưu đãi đất đai và hỗ trợ thuế để thu hút từ 30 đến 50 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, hóa chất phụ trợ và bảo dưỡng công nghiệp nặng, nâng tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI lên 10 - 15% tổng GRDP vào năm 2025.

Thứ tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ logistics đa phương thức. Sở Giao thông Vận tải phối hợp với các bộ, ngành triển khai nâng cấp hệ thống logistics cảng biển nước sâu Dung Quất kết nối đồng bộ với tuyến cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi và Quốc lộ 1A, định hướng tăng trưởng doanh thu ngành dịch vụ logistics đạt từ 12% đến 15%/năm trong giai đoạn 2020 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất): Vận dụng hệ thống phân tích để xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, ban hành cơ chế thu hút đầu tư có chọn lọc và thiết lập tiêu chí đánh giá hiệu quả điều hành của các sở, ban, ngành.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo học thuật giá trị về việc ứng dụng mô hình kim cương của Porter và phương pháp phân rã dịch chuyển năng suất của Jan Fagerberg tại một địa bàn cấp tỉnh cụ thể.

Nhóm doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế (doanh nghiệp FDI tại Dung Quất, VSIP): Nắm bắt bức tranh tổng thể về môi trường đầu tư, cơ cấu lao động và tiềm năng phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ để xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn.

Nhóm chính quyền các địa phương có quy mô kinh tế tương đồng trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên): Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc liên kết vùng, tránh bẫy tăng trưởng ảo khi phụ thuộc vào các siêu dự án công nghiệp đơn lẻ.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao GRDP Quảng Ngãi tăng trưởng vượt bậc 18,7% giai đoạn 2006 - 2010 nhưng chậm lại còn 7,8% giai đoạn 2011 - 2015? Tăng trưởng đột biến giai đoạn 2006 - 2010 do Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào vận hành, tạo ra bước nhảy vọt về giá trị sản lượng công nghiệp. Giai đoạn 2011 - 2015, nhà máy đã đạt công suất ổn định khoảng 6,05 triệu tấn/năm nên tốc độ tăng trưởng quay về mức bình thường.

Khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương trong luận văn có điểm gì khác so với chỉ số PCI của VCCI? Chỉ số PCI chủ yếu đo lường chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh thông qua cảm nhận của doanh nghiệp. Khung phân tích của luận văn mở rộng toàn diện hơn khi tích hợp cả các yếu tố tự nhiên, năng lực nội tại của doanh nghiệp, hạ tầng kỹ thuật và mức độ phát triển cụm liên kết ngành.

Thực trạng chất lượng lao động ảnh hưởng thế nào đến năng lực cạnh tranh của tỉnh? Năm 2016, có tới 80,6% lực lượng lao động của tỉnh chưa qua đào tạo chuyên môn. Tỷ lệ lao động kỹ thuật thấp làm giảm khả năng tiếp thu công nghệ, hạn chế thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và khiến năng suất lao động khu vực tư nhân nội địa tăng trưởng chậm.

Mô hình cụm ngành đóng vai trò gì trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Ngãi? Phát triển cụm liên kết ngành quanh Khu kinh tế Dung Quất giúp kết nối các nhà máy lọc dầu, luyện thép với các doanh nghiệp phụ trợ vệ tinh. Mô hình này gia tăng giá trị nội địa, tạo hiệu ứng lan tỏa tri thức và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động giá cả thị trường thế giới.

Sự biến động giá dầu thế giới tác động như thế nào đến nguồn thu ngân sách của Quảng Ngãi? Khi giá dầu thô giảm gần 40% trong giai đoạn 2015 - 2016, giá trị sản xuất và nguồn thu ngân sách của tỉnh bị ảnh hưởng trực tiếp, làm giảm tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng từ 63,46% năm 2013 xuống còn 56,81% vào năm 2015.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa khung lý thuyết toàn diện về năng lực cạnh tranh địa phương, kết hợp hiệu quả giữa mô hình kim cương của Porter và mô hình phân rã năng suất của Jan Fagerberg.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng tăng trưởng kinh tế của Quảng Ngãi giai đoạn 2005 - 2015 phụ thuộc quá mức vào tổ hợp lọc hóa dầu, trong khi khu vực FDI chỉ đóng góp 3% giá trị sản xuất và 80,6% lao động chưa qua đào tạo.
  • Năng suất lao động của tỉnh tăng thêm 28,5 triệu đồng giai đoạn 2010 - 2016, trong đó hiệu ứng cải thiện nội ngành giữ vai trò quyết định với 54,4% tỷ trọng đóng góp.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi nhằm nâng cao chỉ số PCI, tái cơ cấu công nghiệp theo cụm liên kết ngành và hoàn thiện hạ tầng logistics cho giai đoạn 2018 - 2025.
  • Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần khẩn trương hiện thực hóa các giải pháp chính sách để xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, đưa Quảng Ngãi bứt phá thành trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng động của miền Trung.