Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2005 - 2013, tỉnh Bến Tre ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa bình quân đạt 8,6%, vượt mức trung bình 6,5% của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh có bước chuyển dịch tích cực khi tăng từ 95,1 triệu USD năm 2005 lên 435,4 triệu USD năm 2012. Mặc dù sở hữu đường bờ biển dài hơn 65 km cùng hệ thống sông ngòi bồi đắp ba vùng sinh thái đặc thù gồm nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nền kinh tế địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản phát triển. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bến Tre sụt giảm từ 62,35 điểm vào năm 2007 (thuộc nhóm xếp hạng 26 toàn quốc) xuống các vị trí thấp hơn trong các năm tiếp theo.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ mô hình sản xuất nông nghiệp mang tính tự phát, phân tán theo quy mô hộ gia đình, dẫn đến tình trạng trồng - đốn bấp bênh theo biến động giá cả thị trường. Điển hình vào đầu năm 2013, khi giá ca cao tươi giảm xuống khoảng 3.000 đồng/kg, người nông dân đã đốn bỏ 1.944 ha (chiếm 18,22% tổng diện tích ca cao toàn tỉnh) để chuyển sang trồng bưởi da xanh. Tương tự năm 2012, khi giá dừa khô giảm sâu từ 12.000 đồng xuống 1.500 đồng/trái, diện tích dừa lâu năm cũng bị triệt hạ để đào ao nuôi tôm. Hệ quả là chuỗi cung ứng nguyên liệu chế biến bị đứt gãy nghiêm trọng. Song song đó, tỷ suất di cư thuần của tỉnh ở mức âm 8,2 phần nghìn vào năm 2012, khiến nguồn nhân lực bị suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng. Luận văn tập trung nhận diện các rào cản cốt lõi và xây dựng gói giải pháp chính sách công nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015 - 2020, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 13% đến 14,5%/năm và nâng thu nhập bình quân đầu người đạt mức 3.300 USD vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia của Giáo sư Michael E. Porter (năm 2008), được Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (năm 2013) hiệu chỉnh để phù hợp với cấp độ địa phương tại Việt Nam. Cốt lõi của lý thuyết khẳng định năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ năng suất sử dụng các yếu tố sản xuất của một nền kinh tế. Mô hình phân tích được cấu thành bởi ba nhóm trụ cột tương hỗ:

Trụ cột thứ nhất là các yếu tố nền tảng sẵn có của địa phương, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và quy mô dân số. Đây là các điều kiện đầu vào cơ bản định hình tiềm năng phát triển.

Trụ cột thứ hai là năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương, thể hiện qua chất lượng hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, điện, nước, viễn thông), hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục, văn hóa), cùng hệ thống chính sách tài khóa, xúc tiến đầu tư và cơ cấu tín dụng. Trụ cột này đóng vai trò kiến tạo môi trường hoạt động cho khu vực kinh tế tư nhân.

Trụ cột thứ ba là năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp, phản ánh qua chất lượng môi trường kinh doanh, mức độ phát triển của các cụm ngành chuyên môn hóa và chiến lược vận hành của cộng đồng doanh nghiệp nội tỉnh. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: năng suất các yếu tố tổng hợp, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ dòng vốn FDI và mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê mô tả chuỗi thời gian giai đoạn 2001 - 2013. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám Thống kê tỉnh Bến Tre (giai đoạn 2005, 2010, 2012), báo cáo chỉ số PCI của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2005 - 2012), báo cáo đánh giá hiện trạng doanh nghiệp năm 2013 của Sở Công Thương và báo cáo tổng kết Đề án áp dụng tiêu chuẩn chất lượng của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu định tính có chủ đích, thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia và lãnh đạo phụ trách tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư cùng các ban ngành liên quan. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa tập mẫu khảo sát thực tế gồm 72 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh Bến Tre do Sở Công Thương thực hiện năm 2013. Việc kết hợp chuỗi dữ liệu thống kê nhiều năm với phương pháp phỏng vấn sâu giúp làm rõ cơ chế vận hành chính sách, giải thích bản chất các khiếm khuyết thể chế và đánh giá chính xác tác động thực thi của các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra tình trạng suy giảm nguồn nhân lực và áp lực di dân diễn ra gay gắt. Năm 2012, Bến Tre ghi nhận 13.538 người xuất cư, xếp thứ ba khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long về tỷ suất di cư thuần với mức âm 8,2 phần nghìn. Trong đó, có 7.579 người (chiếm 56% tổng số người xuất cư) chuyển đến sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dù tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên đạt 94,1%, nhưng tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật lại chiếm tới 93,5%, trong khi lao động có trình độ cao đẳng, đại học chưa đạt 3%. Khảo sát doanh nghiệp năm 2013 cho thấy 20,83% doanh nghiệp gặp khó khăn lớn về nguồn lao động, bao gồm hơn 20% thiếu lao động phổ thông và gần 14% thiếu nhân lực kỹ thuật cao.

Phát hiện thứ hai làm rõ các rào cản hành chính và tính minh bạch kém trong môi trường kinh doanh. Thời gian đăng ký kinh doanh được rút ngắn từ 16,5 ngày xuống 8,5 ngày trong giai đoạn 2006 - 2010, giúp điểm số gia nhập thị trường năm 2012 đạt 8,02 điểm. Tuy nhiên, chỉ số thành phần chi phí thời gian thực hiện quy định nhà nước lại sụt giảm mạnh từ 7,75 điểm năm 2005 xuống 5,19 điểm năm 2012. Doanh nghiệp đầu tư phải thực hiện trung bình 18 thủ tục hành chính liên quan đến đất đai, xây dựng và môi trường. Đáng chú ý, 33,91% doanh nghiệp được khảo sát năm 2012 cho rằng cần phải có mối quan hệ thân quen mới có thể tiếp cận được tài liệu quy hoạch của tỉnh, và 24,51% doanh nghiệp xem việc thương lượng với cán bộ quản lý là một phần thiết yếu.

Phát hiện thứ ba phản ánh sự manh mún của các cụm ngành kinh tế và sự vắng bóng động lực lan tỏa từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có tới 99% doanh nghiệp tại Bến Tre là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong cơ cấu doanh nghiệp theo ngành, doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ chiếm 47%, xây dựng chiếm 11%, thủy sản chiếm 13%, trong khi lĩnh vực chế biến thực phẩm - thế mạnh của tỉnh - chỉ chiếm 3% với 63 doanh nghiệp. Toàn tỉnh chỉ thu hút được 41 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 291 triệu USD đến năm 2012, đóng góp của khu vực FDI vào GDP chỉ đạt khoảng 3%. Điển hình cụm ngành bưởi da xanh (quy mô 4.000 ha hình thành từ năm 2006) hoạt động thiếu đồng bộ, liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp chế biến và viện nghiên cứu còn rời rạc. Hậu quả là 63,89% doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, 48,61% gặp áp lực cạnh tranh giá bán, 50% thiếu vốn và 41,67% thiếu hụt nguyên liệu đầu vào ổn định.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của năng lực cạnh tranh suy giảm bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thô và năng suất lao động thấp. Năm 2005, năng suất lao động khu vực nông nghiệp chỉ đạt 6,6 triệu đồng/người/năm, trong khi khu vực công nghiệp đạt 20,8 triệu đồng/người/năm. Khi tỉnh đẩy mạnh công nghiệp hóa qua việc thành lập Khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp, một lượng lớn lao động chưa qua đào tạo đã chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp. Việc thiếu các chương trình đào tạo chuyển tiếp khiến doanh nghiệp phải tốn kém chi phí đào tạo lại, làm giảm hiệu quả chung của toàn nền kinh tế.

Dữ liệu phân tích có thể được mô tả trực quan thông qua bảng ma trận đánh giá chín nhóm nhân tố năng lực cạnh tranh địa phương hoặc biểu đồ đường thể hiện khoảng cách năng suất lao động giữa ba khu vực kinh tế giai đoạn 2001 - 2013. Mặc dù hệ thống hạ tầng giao thông có bước tiến vượt bậc với việc đưa vào vận hành cầu Rạch Miễu năm 2009 (rút ngắn thời gian qua phà từ 45 phút xuống 15 phút) và cầu Hàm Luông năm 2010 (rút ngắn gần 100 km hành trình từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Sóc Trăng, Cà Mau), sự kết nối hạ tầng cứng vẫn chưa bù đắp được sự yếu kém của hạ tầng mềm.

So sánh với các nghiên cứu phát triển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Bến Tre đang rơi vào điểm nghẽn thực thi chính sách. Điển hình là Đề án đào tạo 50 cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài (Bến Tre 50) sau hơn 4 năm chỉ cử được 20 người và có 5 người tốt nghiệp, do áp đặt quy định cam kết phục vụ tối thiểu 10 năm - cao hơn nhiều so với khung tối thiểu 6 năm quy định tại Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Tương tự, Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng theo Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND sau 5 năm chỉ hỗ trợ được 16 dự án với định mức hỗ trợ 30% kinh phí (tối đa 25 triệu đồng), do thủ tục chứng từ rườm rà và công tác truyền thông thụ động.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải cách chính sách tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Sở Nội vụ tỉnh Bến Tre cần đổi mới căn bản phương thức thi tuyển công chức bằng việc xây dựng ngân hàng đề thi chuyên môn hóa theo từng vị trí việc làm, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế cộng điểm không minh bạch. Rà soát lại tiêu chí tuyển chọn của Đề án Bến Tre 50, giảm thời gian cam kết phục vụ về mức 6 năm theo đúng quy định pháp luật hiện hành. Ban Quản lý các Khu công nghiệp phối hợp Trường Cao đẳng Bến Tre thiết lập chương trình đào tạo kỹ thuật công nghệ chế biến theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn đạt trên 25% vào năm 2020.

Thứ hai, tối ưu hóa môi trường kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai cơ chế một cửa liên thông thực chất giữa các cơ quan Thuế, Công an, Tài nguyên và Môi trường, cắt giảm tối thiểu 30% thời gian xử lý đối với 18 thủ tục đầu tư, đất đai và xây dựng. Công khai 100% quy hoạch quỹ đất sạch trên cổng thông tin điện tử nhằm giảm chi phí không chính thức, phấn đấu đưa chỉ số chi phí thời gian trong bảng xếp hạng PCI đạt trên 7,0 điểm trong giai đoạn 2015 - 2017.

Thứ ba, thiết lập quỹ tín dụng ưu đãi và mở rộng dịch vụ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Sở Công Thương tỉnh Bến Tre chủ trì phối hợp với các ngân hàng thương mại thành lập Quỹ hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giải quyết điểm nghẽn thiếu vốn cho 50% doanh nghiệp trên địa bàn. Tăng cường tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại từ mức 4 kỳ hội chợ/năm lên 12 đến 15 kỳ/năm trong giai đoạn 2015 - 2018, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường xuất khẩu và xây dựng thương hiệu nông sản.

Thứ tư, tái cơ cấu và nâng cấp chuỗi giá trị cụm ngành nông nghiệp chủ lực. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ cùng các viện nghiên cứu quy hoạch dứt điểm vùng nguyên liệu tập trung cho cây dừa, bưởi da xanh và thủy sản nước lợ, chấm dứt tình trạng chuyển đổi cây trồng tự phát. Ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp bao tiêu nông sản đạt chuẩn VietGAP và HACCP, đồng thời đẩy mạnh thu hút từ 8 đến 10 dự án FDI trong lĩnh vực chế biến sâu giai đoạn 2016 - 2020 để tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và các nhà hoạch định chính sách công: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Sở Công Thương tại Bến Tre và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long có thể sử dụng nghiên cứu làm tài liệu đối chiếu khi xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, cải cách thể chế công vụ và hoạch định chính sách thu hút nhân tài.

Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Trung tâm Xúc tiến Đầu tư: Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực chứng về nhu cầu hạ tầng và mặt bằng sạch, hỗ trợ thiết kế các gói xúc tiến đầu tư có trọng tâm vào phân khúc chế biến nông - thủy sản công nghệ cao.

Hiệp hội ngành hàng, Hợp tác xã và Chủ cơ sở sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp tìm thấy những phân tích giá trị về chuỗi cung ứng, rủi ro biến động nguyên liệu và phương thức liên kết chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng lực đàm phán thương mại.

Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc ứng dụng khung phân tích kinh tế vi mô của Michael Porter kết hợp chỉ số PCI để đánh giá năng lực cạnh tranh địa phương tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến chỉ số chi phí thời gian của tỉnh Bến Tre suy giảm từ 7,75 điểm năm 2005 xuống 5,19 điểm năm 2012 là gì? Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp phải thực hiện trung bình 18 thủ tục hành chính phức tạp liên quan đến đất đai và xây dựng. Cơ chế một cửa liên thông chưa đồng bộ giữa các sở ngành, việc công khai biểu phí và thời gian xử lý chưa minh bạch khiến thời gian chờ đợi gia tăng.

Tại sao Đề án đào tạo sau đại học Bến Tre 50 không đạt được chỉ tiêu đề ra sau hơn 4 năm thực hiện? Đề án chỉ cử được 20 ứng viên do áp đặt điều kiện cam kết phục vụ liên tục ít nhất 10 năm, tạo rào cản tâm lý lớn cho nhân lực trẻ. Đồng thời, đội ngũ cán bộ công chức tại chỗ đáp ứng yêu cầu lại gặp hạn chế về trình độ ngoại ngữ.

Tình trạng đốn - trồng cây nông nghiệp tự phát tại Bến Tre có thể giải quyết dứt điểm bằng giải pháp nào? Tỉnh cần quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng cơ chế bảo hiểm nông sản và tăng cường vai trò điều phối của Nhà nước trong mối liên kết bốn nhà. Việc hỗ trợ doanh nghiệp chế biến bao tiêu sản phẩm đạt chuẩn VietGAP sẽ ổn định đầu ra cho nông dân.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò gì đối với năng lực cạnh tranh của cụm ngành nông sản Bến Tre? Khu vực FDI chỉ chiếm khoảng 3% GDP của tỉnh năm 2012. Việc thu hút doanh nghiệp FDI vào lĩnh vực chế biến sẽ tạo động lực lan tỏa công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chuẩn hóa quy trình quản lý chất lượng và mở rộng kênh phân phối quốc tế cho nông sản địa phương.

Khung lý thuyết của Michael Porter được điều chỉnh thế nào để phù hợp với cấp địa phương tại Việt Nam? Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh đã điều chỉnh mô hình thành ba cấp độ: yếu tố nền tảng sẵn có, năng lực cạnh tranh cấp địa phương và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp. Cách tiếp cận này giúp lồng ghép các chỉ số thực tế như PCI và quy hoạch hành chính công vào phân tích.

Kết luận

Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh cấp địa phương thông qua việc kết hợp mô hình kinh tế của Michael Porter và bộ chỉ số PCI.

Nhận diện ba rào cản mang tính cốt lõi của tỉnh Bến Tre gồm: chảy máu chất xám đi kèm tỷ suất di cư âm 8,2 phần nghìn, môi trường kinh doanh kém minh bạch với chi phí thời gian cao, và sự liên kết lỏng lẻo trong các cụm ngành nông sản.

Cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm giá trị từ dữ liệu thống kê chuỗi thời gian 2001 - 2013 và các khảo sát chuyên sâu tại 72 doanh nghiệp nội tỉnh.

Đề xuất khung chính sách bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể cho giai đoạn 2015 - 2020, bao gồm cải cách công vụ, minh bạch hóa thủ tục một cửa, lập quỹ tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp và tái cấu trúc chuỗi giá trị cụm ngành.

Định hướng mở rộng các nghiên cứu tương lai về mối liên kết kinh tế vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và chiến lược ứng phó dài hạn với hiện tượng xâm nhập mặn.

Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp hành động ngay từ hôm nay để đưa các khuyến nghị chính sách vào thực tiễn, biến nguồn tài nguyên nông nghiệp phong phú của Bến Tre thành lợi thế cạnh tranh bền vững trong tương lai.