CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NĂNG LỰC CẠNH TRANH Nội dung trình bày nền tảng lý thuyết năng lực cạnh tranh và các mô hình phân tích bao gồm mô hình về nguồn lực, mô hình 5 tác lực cạnh tranh và công cụ phân tích nguồn gốc lợi thế cạnh tranh bằng chuỗi giá trị.1 Lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội. Tuỳ từng cách hiểu và cách tiếp cận mà có nhiều quan điểm về cạnh tranh: Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn doanh nghiệp khác. Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm giành lấy thị trường và khách hàng về doanh nghiệp của mình.
Lý thuyết cạnh tranh cũng được các nhà kinh tế học nghiên cứu và định nghĩa như sau: Cạnh tranh có nguồn gốc latin (competere) nghĩa là tham gia đua tranh với nhau (Neufeldt,1996)[35]. Cạnh tranh cũng có nghĩa là nỗ lực hành động để thành công hơn, đạt kết quả tốt hơn người đang có hành động như mình. Do đó, sự cạnh tranh (competition) là sự kiện trong đó cá nhân hay tổ chức cạnh tranh nhau để đạt thành quả mà không phải mọi người đều giành được (Wehmeier, 2000)[32]. Theo Michael Porter[27], cạnh tranh là việc đấu tranh hoặc giành giật của một số đối thủ về khách hàng, thị trường hoặc nguồn lực của các công ty.
Tuy nhiên bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 tăng cao hơn hoặc là mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn các đối thủ cạnh tranh. Theo hướng tư duy này, cạnh tranh không chỉ là những động thái của tình huống mà là cả một tiến trình tiếp diễn không ngừng, các công ty đều phải đua nhau để cung cấp giá trị khách hàng tốt nhất. Công ty nào không có được lợi thế cạnh tranh hay không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh và tìm cách duy trì chúng thì doanh nghiệp đó sẽ bị đào thải nhanh chóng trong một thị trường cạnh tranh ngày càng nhiều biến động.2 Năng lực cạnh tranh. Ở khía cạnh kinh tế học, nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa Năng lực cạnh tranh theo nhiều quan điểm khác nhau: Năng lực cạnh tranh là năng lực tức thì và tương lai của doanh nhân; là các cơ hội cho doanh nhân thiết kế, sản xuất và tiếp thị hàng hóa toàn cầu với một gói giá và chất lượng phi giá vượt trội hơn đối thủ trong và ngoài nước (European Management Produce&Market, 1991, dẫn theo Garelli 2005)[31].
Năng lực cạnh tranh bao hàm sự kết hợp tài sản và quy trình, trong đó, tài sản được thừa hưởng hoặc được tạo mới và nhờ quy trình để chuyển hóa thành lợi nhuận kinh tế thông qua kênh mua bán (Ambastha&Momaya 2004)[16]. Nhìn chung, các nghiên cứu, định nghĩa trên đã đề cập đến ít nhất 2 trong 3 nội dung: Nguồn lực của công ty (tài sản, năng lực, quy trình). Đầu ra trực tiếp của nguồn lực này (hàng hóa, dịch vụ) với một mức chi phí hay chất lượng so sánh với đối thủ. Thành quả trên thị trường mang lại từ đầu ra đó (giá trị khách hàng, uy tín thương hiệu, danh tiếng …).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tiếp nối những nghiên cứu về Năng lực cạnh tranh, lý thuyết Lợi thế cạnh tranh được quan tâm tạo nền tảng sâu rộng cho doanh nghiệp tiếp cận nền kinh tế thị trường.3 Lợi thế cạnh tranh. Tiếp cận nghiên cứu Năng lực cạnh tranh ở cấp vi mô (công ty), nhiều nhà kinh tế đưa quan điểm về Lợi thế cạnh tranh: Lợi thế cạnh tranh công ty giành được thông qua việc cung cấp cho khách hàng giá trị lớn hơn kỳ vọng, dẫn đến những thành quả vượt trội thể hiện qua các chỉ tiêu thông thường như thị trường và tài chính (Fahy & Smithee 1999)[24]. Collis & Montgomery ( 2008)[20] đúc kết lợi thế cạnh tranh là sự sở hữu nguồn lực có giá trị, giúp công ty tạo nên những thành quả tốt hơn đối thủ. Lợi thế cạnh tranh (Michael Porter, 1985, trang 33)[5] là giá trị mà một doanh nghiệp mang lại cho người mua, giá trị đó lớn hơn chi phí của doanh nghiệp đã phải bỏ ra.
Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tương đương nhưng với mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp các tiện ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường. Khi một công ty có lợi thế cạnh tranh, công ty đó sẽ có cái mà các đối thủ cạnh tranh khác không có, công ty sẽ hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của một công ty. Do đó các công ty đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên lợi thế cạnh tranh thường rất dễ bị xói mòn bởi những hành động bắt chước của đối thủ.
Do đó, với mục tiêu phát triển dài hạn, công ty cần xây dựng cho mình một nền tảng cơ bản để hoạt động doanh nghiệp đạt mức trên trung bình, nền tảng đó là Lợi thế cạnh tranh bền vững ( sustainable competitive advantage ). Mỗi doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Vì vậy, lợi thế cạnh tranh bền vững là những vị thế đủ lớn để tạo sự khác biệt, đủ lâu dài trước những biến đổi của môi trường kinh doanh và phản ứng của đối thủ, trội hơn đối thủ trong những thuộc tính kinh doanh hữu hình có ảnh hưởng đến khách hàng.2 Các mô hình phân tích năng lực cạnh tranh.1 Mô hình phân tích dựa trên quan điểm nguồn lực (Resource-Based View) Lý thuyết quan điểm cơ sở nguồn lực xem các nhân tố bên trong mà công ty sở hữu, kiểm soát được, cùng với khả năng quản trị là định tố cho lợi thế cạnh tranh và các thành quả giá trị.1 Các luận điểm cơ sở Nguồn lực của công ty là một đề tài quan trọng được các nhà nghiên cứu lưu tâm từ rất lâu nhằm mục đích xây dựng những giải pháp nâng cao hiểu quả hoạt động sản xuất. Wernerfelt ( 1984)[18] cho rằng “ nguồn lực và sản phẩm là 2 mặt của một đồng xu” bằng chỉ định qui mô hoạt động của công ty trong các thị trường khác nhau, có thể suy ra nguồn lực yêu cầu tối thiểu, ngược lại, bằng chỉ định tập nguồn lực cho công ty, có thể suy ra các hoạt động thị trường sản phẩm tối ưu.
Fahy & Smithee ( 1999)[24] tổng hợp từ các nghiên cứu trước đưa ra phân loại các nguồn lực cơ bản sau: Tài sản hữu hình gồm các tài sản lưu động và cố định có công suất dài hạn cố định, có tính sở hữu và dễ đo lường, tính minh bạch cao và khả năng chống sao chép thấp. Tài sản vô hình gồm sở hữu trí tuệ, thương hiệu, danh tiếng, mạng và cơ sở dữ liệu công ty. Tài sản vô hình tạo ra sai biệt giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách, có năng suất gần như không giới hạn mà công ty có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 khai thác để tạo giá trị bằng cách dùng riêng hay cho thuê, có khả năng nhất định chống lại sự sao chép từ các đối thủ. Công ty là tập hợp các nguồn lực, nhưng không phải nguồn lực nào cũng tạo lợi thế cạnh tranh và giữ được bền vững của lợi thế đó.
Trong số các quan điểm khác nhau về thuộc tính nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, quan điểm của Peteraf (1993)[26] và Barney (1991)[23] là đáng chú ý với tiêu chuẩn VRIN sẽ được trình bày dưới đây.2 Lý thuyết về nguồn lực và nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh.1 Phân loại nguồn lực Nguồn lực của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều dạng khác nhau. Chúng ta có thể chia chúng ra thành hai nhóm: hữu hình và vô hình[22] Các nguồn lực hữu hình bao gồm: Các nguồn lực tài chính (financial resources) như vốn tự có và khả năng vay vốn của doanh nghiệp, các mức tín dụng, tài sản ròng hiện có, dự trữ tiền mặt, và bất cứ một tài sản tài chính nào khác. Các nguồn lực vật chất hữu hình (physical resources) là những tài sản sản xuất hữu hình của doanh nghiệp có thể đem lại lợi thế về chi phí sản xuất như qui mô, vị trí, tinh vi về kỹ thuật (technical sophistication), tính linh hoạt của nhà máy sản xuất, của trang thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào, nhà xưởng, thiết bị, phương tiện sản xuất, máy móc … Nguồn lực vô hình bao gồm: Nguồn lực về công nghệ bao gồm sở hữu trí tuê, các bằng sáng chế phát minh, bản quyền, bí mật công nghệ… Nguồn lực về danh tiếng bao gồm việc sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng về dịch vụ, chất lượng, độ tin cậy, nhãn hiệu thương mại, hình ảnh công ty, văn hóa của công ty , thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng, nhà cung, ngân hàng, chính quyền… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nguồn lực về nhân sự bao gồm kiến thức, kỹ năng của nhân viên, khả năng thích hợp của nhân viên với tính linh hoạt trong chiến lược, lòng trung thành của nhân viên… Nguồn lực có giá trị khách hàng sẽ mang đến lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nguồn lực đó phải cho phép doanh nghiệp thực hiện được các chiến lược kinh doanh cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động của công ty ( theo Barney[23]). Từ đó giúp cho doanh nghiệp tận dụng được cơ hội và trung lập các mối đe dọa hiện hữu trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 1.2 Năng lực tiềm tàng (Tiềm lực) Các nguồn lực của một công ty là đầu vào cần thiết để thực hiện công việc, chúng sẽ có giá trị hơn nhiều khi được công ty sử dụng nhằm trực tiếp giúp cho công ty đạt được bất cứ mục tiêu nào đề ra.