Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến. Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH May Phố Hiến.
Luận văn tốt nghiệp 4 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Luan van Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản. Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội.Trong giai đoạn hịên nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của DN hiện nay đầy biến động và cạnh tranh là cuộc đấu gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều lợi ích kinh tế hơn về mình.
Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản, Mác đã quan niệm: “ Cạnh tranh CNTB là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.” Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một DN được coi là có sức cạnh tranh là đánh giá nó có thể đứng vững cùng với những nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế… Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau: “ Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận”. Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “mua rẻ - bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường.
Theo Micheal Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. DN nào có thị phần càng lớn thì càng có vị thế, địa vị trên thị trường.
Vậy có thể rút ra khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất”. Luận văn tốt nghiệp 5 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Luan van Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp 2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. NLCT còn gọi là khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về NLCT của DN, cụ thể như sau: NLCT là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. DN muốn cạnh tranh được trên thị trường thì phải có chỗ đứng. Từ các hoạt động kinh doanh DN có lợi nhuận, sản phẩm, thị trường… sẽ giúp DN quay vòng vốn, khai thác thị trường. Có như vậy, DN mới có thể cạnh tranh tốt trên thị trường.
NLCT của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. DN muốn cạnh tranh trước phải có thực lực, từ đó phát triển thành lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, cộng thêm việc đáp ứng nhu cầu khách hàng thì DN mới cạnh tranh được trên thị trường. Có quan điểm gắn NLCT của DN với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất NLCT của DN với hiệu quả sản xuất kinh doanh,… DN có thị phần lớn hay hiệu quả sản xuất kinh doanh cao đều tạo ra lợi thế cạnh tranh cho DN mình, mà các DN khác không có được. Một quan điểm khác cho rằng, NLCT của DN gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà DN đưa ra thị trường.
Sản phẩm có một đặc điểm nào đó lợi thế hơn so với các sản phẩm cùng ngành cũng giúp cho DN có được NLCT cao. Do đó, DN muốn có được chỗ đứng trên thị trường thị phải xây dựng được thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình để cho người tiêu dùng khi nhắc đến sản phẩm cùng loại là nghĩ ngay đến sản phẩm của DN. Như vậy: “NLCT của DN là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường” – Thực chất là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Một số lý thuyết của năng lực cạnh tranh.
Quan điểm về cạnh tranh. Cạnh tranh là một phạm trù khá rộng, vì vậy có rất nhều quan điểm về cạnh tranh được đưa ra: Luận văn tốt nghiệp 6 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Luan van Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp Theo Karl Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Marx đã nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hóa TBCN và cạnh tranh TBCN, Marx đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Theo quan điểm này, cạnh tranh là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Theo các học giả trường phái tư sản cổ điển: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình”. Các học giả trường phái tư sản cố điển đã đưa ra một quan điểm chung và tổng quát hơn về cạnh tranh. Quan điểm này đã chỉ ra rằng cạnh tranh là một phạm trù rộng lớn và khó xác định.
Cạnh tranh sẽ tạo ra những khó khăn nhất định cho các thành viên trong thị trường. Các thành viên sẽ có một phần xứng đáng nếu biết cách sử dụng, khai thác có hiệu quả khả năng của mình. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Tính cạnh trạnh là khả năng của các DN, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện canh tranh quốc tế”. Đây là một quan điểm khác về cạnh tranh, quan điểm này đã chỉ rõ tính cạnh tranh của các DN được thể hiện qua khả năng tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động và phạm vi cạnh tranh được mở rộng trên toàn thế giới.
Quan điểm này nhấn mạnh vai trò với xã hội, cộng đồng hơn là khả năng tạo ra doanh thu, lợi nhuận của các DN. Quan điểm về năng lực cạnh tranh. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả, làm cho các DN, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Vậy một DN muốn có NLCT tốt thì phải biết sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có để tạo ra mức doanh thu cao.
Quan điểm khác cho rằng: NLCT của DN là khả năng giành được phần thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh trên các mặt: chất lượng, giá cả của sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, giá trị sử dụng của hàng hóa…và người chiến thắng trong cạnh tranh được coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn. Theo quan điểm này, các DN muốn giành được thắng Luận văn tốt nghiệp 7 Mạc Thị Thủy – K5HQ1C Luan van Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị doanh nghiệp lợi trước các ĐTCT thì phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phù hợp, thực hiện tốt các dịch vụ hỗ trợ sau bán… Đây là một thách thức đối với các DN, đòi hỏi các DN phải “biết người, biết ta” để có những chiến lược kinh doanh phù hợp. Theo quan điểm quản trị chiến lược của M.Porter (Chiến lược cạnh tranh của M.Porter, NXB Khoa học kĩ thuật Hà Nội, 1996) thì: “NLCT của các hãng được quyết định bởi sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong ngành, các lực lượng này bao gồm các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành, sản phẩm thay thế, người cung ứng, và khách hàng”.Porter đã nhấn mạnh vai trò của các lực lượng cạnh tranh trong ngành trong việc quyết định NLCT của DN. Đây là những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến NLCT của DN.
Yêu cầu DN phải phân tích kỹ thị trường, thấu hiểu khách hàng, đánh giá đúng ĐTCT, tìm được những nhà cung ứng có chất lượng… có vậy DN mới nâng cao được NLCT của mình. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước. Nâng cao NLCT luôn là mối quan tâm hàng đầu của một DN. Chính vì vậy trong thời gian qua có khá nhiều công trình nghiên cứu luận văn của sinh viên các khóa trước về đề tài này với các khía cạnh, trình độ khác nhau, ví dụ như: Đề tài: “Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty phát triển phần mềm VASC” của Trần Thu Trang - Trường ĐHTM , năm 2003.
Đã đưa ra được một số nội dung chủ yếu của vấn đề NLCT trong DN.