Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu K5-HQ1D Hứa Hải Hà Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Quản Trị Kinh Doanh Chương 2: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Phú Qúy Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Phú Qúy K5-HQ1D Hứa Hải Hà Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Quản Trị Kinh Doanh CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về cạnh tranh Dưới thời kỳ CNTB phát triển vượt bậc, CacMac đã quan niệm rằng “ Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Theo Samuelson: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng. Theo Kac-Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đẻe thu được lợi nhuận siêu ngạch. Theo kinh tế Amô thì một thị trường cạnh tranh hoàn hảo có rất nhiều người mua, người bán để cho không có một người mua hoặc một người bán duy nhất nào có ảnh hưởng, có ý nghĩa đối với giá cả. Theo cuốn “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” thì cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường.
Cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp, đó là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao lợi thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Ngày nay, dưới sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi nhưng về bản chất nó không hề thay đổi : Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, K5-HQ1D Hứa Hải Hà Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Quản Trị Kinh Doanh các doanh nghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó.2 Vai trò của cạnh tranh 2. Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: Canh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội. Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao.
Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổn định. Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả.
Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế. Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng. Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không phải chịu một sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn.
Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ. Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn. K5-HQ1D Hứa Hải Hà Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Quản Trị Kinh Doanh 2. Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao. Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “ bản lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh. Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường. Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường.
Chính vì vậy chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống cho mình.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại 2.1 Các yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là những lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh được thực hiện trong việc thoả mãn đến mức cao nhất các yêu cầu của thị trường. Các yếu tố được coi là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ có thể là chất lượng sản phẩm, giá cả, mạng lưới tiêu thụ, những tiềm lực về tài chính, trình độ của đội ngũ lao động. + Chất lượng sản phẩm : Là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật. Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khi thiết kế sản phẩm cho đến khi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Doanh nghiệp K5-HQ1D Hứa Hải Hà Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Quản Trị Kinh Doanh muốn cạnh tranh được với doanh nghiệp khác thì việc đảm bảo đến chất lượng sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa sống còn. + Giá cả : Là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh, với doanh nghiệp phải có những biện pháp hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành của sản phẩm. Từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. + Mạng lưới tiêu thụ.
+ Tiềm lực về tài chính : khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều vốn thì sẽ có đủ khả năng cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác khi họ thực hiện được các chiến lược cạnh tranh , các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ như khuyến mại giảm giá. + Trình độ của đội ngũ lao động : Nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ một doanh nghiệp nào vì vậy đầu tư vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động là một hướng đầu tư hiệu quả nhất, vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, chính vì vậy công ty cần phải tổ chức đào tạo huấn luyện nhằm mục đích nâng cao, chuẩn bị cho họ theo kịp với những thay đổi của cơ cấu tổ chức và của bản thân công việc. Vì vậy có thể nói rằng cả các yếu tố như, chất lượng sản phẩm hình thức mẫu mã sản phẩm, giá cả tiềm lực tài chính, trình độ lao động thiết bị kỹ thuật, việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng. là những yếu tố trực tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1 Kết quả kinh doanh Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ phát triển của mình trên thị trường qua các năm.
Bởi vì một doanh nghiệp khi cạnh tranh có hiệu quả thì sẽ được biểu thị qua các kết quả kinh doanh. Khi xem xét người ta đề cập đến các loại chỉ tiêu sau: Doanh thu thuần, chi phí, lợi nhuận…. Ưu điểm : Chỉ tiêu này đơn giản dễ tính. K5-HQ1D Hứa Hải Hà Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Quản Trị Kinh Doanh Nhược điểm : Phương pháp này khó đảm bảo tính chính xác do khó lựa chọn những doanh nghiệp mạnh nhất, đặc biệt là kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau và thông thường mỗi doanh nghiệp có thế mạnh trong một vài lĩnh vực nào đó và để đảm bảo hiệu quả thì phải phân nhỏ sự lựa chọn này thành nhiều lĩnh vực.2 Tỷ suất lợi nhuận Một trong các chỉ tiêu thể hiện tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp là.
Lợi nhuận Tỷ suất doanh lợi = Doanh thu Hoặc ( Giá bán – Giá thành ) Tỷ suất doanh lợi = Giá bán Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường rất gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh rất thuận lợi.3 Kết quả trúng các gói thầu Là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty so với các công ty khác cùng ngành. Khi số lượng các gói thầu được ký kết hợp đồng càng lớn thì thị phần của doanh nghiệp trên thị trường càng cao. Doanh số bán lớn đảm bảo có doanh thu để trang trải các chi phí bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích luỹ để tái mở rộng sản xuất. Doanh số bán ra càng lớn thì tốc độ chu chuyển hàng hoá và chu chuyển vốn càng nhanh, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp.
Như vậy số lượng hợp đồng càng lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao.