Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau tiến trình đàm phán kéo dài gần 12 năm, ngày 07 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trở thành thành viên thứ 150. Việc gia nhập WTO đánh dấu bước hội nhập sâu rộng thông qua các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, trong đó cam kết mở cửa phân ngành dịch vụ phân phối được đánh giá là tương đối mạnh mẽ. Ngành phân phối bán lẻ nội địa phải đối mặt trực tiếp với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia có tiềm lực tài chính lớn, mạng lưới hậu cần hiện đại và kinh nghiệm quản lý dày dạn. Trong khi đó, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bộc lộ nhiều điểm yếu về quy mô vốn, trình độ nhân lực, cơ sở hạ tầng, sự liên kết chuỗi và sự thiếu hụt quy hoạch tổng thể từ phía Nhà nước. Nếu đánh mất thị phần bán lẻ trên thị trường nội địa, hệ quả không chỉ dừng lại ở nguy cơ phá sản của hệ thống phân phối trong nước mà còn làm suy yếu các nhà sản xuất nội địa, khiến hoạt động nhập khẩu bị chi phối, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của hàng vạn thương nhân và thị trường tiêu thụ của hàng triệu lao động nông thôn lẫn thành thị.

Trước đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, đề tài khóa luận "Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong hệ thống phân phối tại thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích, đánh giá tổng quan hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam trong tương quan so sánh với các tập đoàn phân phối nước ngoài trên thị trường nội địa; phân tích tác động từ việc thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân phối trong WTO; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ nội địa.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về bán lẻ và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ.
    2. Tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành về tiêu chuẩn siêu thị, trung tâm thương mại và các chế định trong Luật Cạnh tranh.
    3. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong mối tương quan với các nhà phân phối nước ngoài tại thị trường nội địa.
    4. Phân tích cơ hội, thách thức và xu hướng vận động của thị trường bán lẻ thời kỳ hậu WTO.
    5. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian và loại hình: Tập trung khảo sát hoạt động của doanh nghiệp bán lẻ trong nước và các tập đoàn nước ngoài qua mô hình phân phối hiện đại gồm siêu thị, trung tâm thương mại và chuỗi cửa hàng bán lẻ tự chọn trên thị trường nội địa.
    • Về thời gian: Phân tích dữ liệu thực trạng giai đoạn 2000 – 2006; xây dựng dự báo và định hướng giải pháp cho giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn sau năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành, hệ thống chỉ tiêu lượng hóa năng lực cạnh tranh và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực thương mại - phân phối:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Khái niệm bán lẻ được tiếp cận từ định nghĩa của Philip Kotler trong công trình Marketing Essentials (mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hoặc dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng cho mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại) và Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia.
    • Vị trí phân ngành: Theo phân loại của WTO và tài liệu MTN.GNS/W/120 (dựa trên Phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời CPC của Liên Hiệp Quốc), dịch vụ bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của ngành dịch vụ phân phối (cùng với đại lý ủy quyền, bán buôn và nhượng quyền). Nhà bán lẻ giữ vị trí cuối cùng trong các mô hình kênh phân phối (kênh không cấp, kênh một cấp, kênh hai cấp, kênh ba cấp) và đảm nhận 8 chức năng cốt lõi: nghiên cứu thu thập thông tin thị trường; kích thích tiêu thụ và truyền bá thông tin sản phẩm; thiết lập và duy trì mối liên hệ với người mua tiềm năng; hoàn thiện hàng hóa (phân loại, sơ chế, đóng gói); thương lượng điều kiện thương mại; tổ chức lưu thông và bảo quản dự trữ hàng hóa; đảm bảo nguồn vốn kinh doanh; chấp nhận và gánh chịu rủi ro phân phối.
    • Lý luận về năng lực cạnh tranh: Khóa luận tiếp thu các quan điểm từ lý thuyết tổ chức công nghiệp, Fafchamps (khả năng kiểm soát chi phí biến đổi trung bình), Randall (khả năng giành và duy trì thị phần sinh lợi) và Dunning (tổng hợp các nguồn lực và thế mạnh huy động được).
    • Bộ chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp bán lẻ gồm 8 tham số chính: (1) Tiềm lực tài chính; (2) Trình độ lực lượng lao động, trang thiết bị và công nghệ; (3) Trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh; (4) Mức độ am hiểu tập quán và thói quen tiêu dùng địa phương; (5) Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) cùng khả năng bao quát thị trường; (6) Giá cả và cơ cấu chủng loại hàng hóa cung ứng; (7) Hoạt động truyền tin và xúc tiến thương mại; (8) Giá trị thương hiệu.
    • Mô hình định lượng xác định điểm đánh giá năng lực cạnh tranh tổng hợp ($DSCTDN$) theo công thức: $$DSCTDN = \sum_{i=1}^{12} K_i \cdot P_i$$ Trong đó $P_i$ là điểm bình quân của tham số thứ $i$ (theo thang 4 điểm hoặc 5 điểm do tập mẫu đánh giá), $K_i$ là trọng số phản ánh mức độ quan trọng của tham số thứ $i$ ($\sum K_i = 1$).
  • Cơ sở pháp lý:
    • Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Thương mại: Tiêu chuẩn phân hạng siêu thị (Hạng I, II, III cho cả hai hình thức kinh doanh tổng hợp và chuyên doanh) dựa trên diện tích kinh doanh, số lượng tên hàng, tiêu chuẩn kiến trúc, kho bãi và tiện ích phục vụ; tiêu chuẩn phân hạng trung tâm thương mại (Hạng I từ 50.000 m², Hạng II từ 30.000 m², Hạng III từ 10.000 m²); quy định về ghi biển hiệu bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
    • Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11: Quy định về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và điều kiện miễn trừ có thời hạn; tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh thị trường (thị phần 1 doanh nghiệp từ 30% trở lên, nhóm 2 doanh nghiệp từ 50%, nhóm 3 doanh nghiệp từ 65%, nhóm 4 doanh nghiệp từ 75%) và vị trí độc quyền; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, quảng cáo so sánh, khuyến mại không trung thực, phân biệt đối xử của hiệp hội).
  • Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp suy luận logic.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên giai đoạn 2000 – 2008 của Tổng cục Thống kê; báo cáo của Bộ Thương mại, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; số liệu nghiên cứu của AT Kearney (2007).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Bán lẻ, các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ và một số quy định pháp luật liên quan

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về phân phối bán lẻ, hệ thống hóa các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh và tổng hợp khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại hiện đại. Tác giả phân tích cấu trúc kênh phân phối và vị trí của bán lẻ trong hệ thống thương mại quốc tế theo phân loại CPC của Liên Hiệp Quốc. Chương này chi tiết hóa 8 chức năng của nhà bán lẻ và thiết lập quy trình 5 bước để xác định nội lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ thông qua bảng hỏi và phương pháp tính điểm bình quân gia quyền.

Bên cạnh mặt lý thuyết quản trị, chương 1 trích xuất chi tiết các quy định pháp luật quản lý ngành. Về Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM, tác giả làm rõ các ngưỡng định lượng phân hạng siêu thị:

  • Siêu thị kinh doanh tổng hợp: Hạng I (diện tích tối thiểu 5.000 m², tối thiểu 20.000 tên hàng), Hạng II (tối thiểu 2.000 m², tối thiểu 10.000 tên hàng), Hạng III (tối thiểu 500 m², tối thiểu 4.000 tên hàng).
  • Siêu thị chuyên doanh: Hạng I (tối thiểu 1.000 m², tối thiểu 2.000 tên hàng), Hạng II (tối thiểu 500 m², tối thiểu 1.000 tên hàng), Hạng III (tối thiểu 250 m², tối thiểu 500 tên hàng).

Đối với Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11, chương này phân tích các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (bán phá giá dưới giá thành toàn bộ, áp đặt giá bán lại tối thiểu, cản trở gia nhập thị trường) và các dạng vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, chỉ ra rằng việc thiếu hiểu biết pháp luật cạnh tranh là yếu điểm khiến doanh nghiệp nội địa khó tự bảo vệ trước đối thủ nước ngoài.


Chương 2: Thực trạng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tại thị trường nội địa trong thời kỳ hậu WTO

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về hệ thống bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006, chỉ rõ cả mặt thành tựu tăng trưởng lẫn những hạn chế cơ cấu và thực hiện phân tích so sánh tương quan lực lượng với các nhà phân phối nước ngoài.

  • Thành tựu tăng trưởng của khối doanh nghiệp bán lẻ nội địa:
    • Số lượng doanh nghiệp: Tăng trưởng liên tục từ 7.313 doanh nghiệp năm 2000 lên 16.313 doanh nghiệp vào cuối năm 2006 (tăng 216,7%, tương ứng bổ sung 8.785 đơn vị). Tốc độ tăng doanh nghiệp các năm đạt: 2001 (112,78%), 2002 (105,48%), 2003 (104,79%), 2004 (117,67%), 2005 (121,36%), 2006 (122,62%).
    • Lực lượng lao động: Tổng số lao động năm 2006 đạt 144.649 người, gấp 1,79 lần năm 2000 (tăng bình quân 10,47%/năm, bổ sung 63.939 lao động sau 6 năm). Thu nhập bình quân mỗi lao động tăng từ 771.000 đồng/tháng (năm 2000) lên 1.561.000 đồng/tháng (năm 2006), tương đương tăng gấp 2,03 lần.
    • Quy mô vốn và tài sản: Nguồn vốn năm 2006 đạt 48.353 tỷ đồng, tăng 2,85 lần so với năm 2003 (tốc độ tăng vốn bình quân đạt 43,57%/năm). Tài sản cố định và đầu tư dài hạn đạt 13.410 tỷ đồng vào năm 2006, gấp 2,78 lần năm 2003.
    • Doanh thu và nộp ngân sách: Doanh thu thuần năm 2006 đạt 111.491 tỷ đồng (gấp 1,94 lần năm 2000 và 1,52 lần năm 2005). Nộp ngân sách nhà nước năm 2006 đạt 2.173,1 tỷ đồng (chiếm 0,84% tổng thu ngân sách cả nước, gấp 2,15 lần năm 2000).
    • Chuyển biến hiệu quả tài chính: Mức lỗ tuyệt đối giảm từ 1.595 tỷ đồng năm 2000 xuống 569 tỷ đồng năm 2006; lỗ bình quân một doanh nghiệp giảm từ 1.027 triệu đồng xuống 110 triệu đồng. Lãi bình quân một doanh nghiệp năm 2006 đạt 182 triệu đồng (gấp 2,6 lần năm 2000); tổng lãi toàn ngành đạt 1.963 tỷ đồng (gấp 4,23 lần năm 2000). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt 2,88% vào năm 2006.
Chỉ tiêu kinh tế Năm 2000 Năm 2003 Năm 2005 Năm 2006
Số lượng doanh nghiệp (doanh nghiệp) 7.313 8.847 13.303 16.313
Tổng số lao động (người) 80.710 - - 144.649
Thu nhập bình quân lao động (nghìn đồng/tháng) 771 - - 1.561
Tổng nguồn vốn (tỷ đồng) - 16.965 - 48.353
Tài sản cố định & đầu tư dài hạn (tỷ đồng) - 4.823 - 13.410
Tổng doanh thu thuần (tỷ đồng) 57.469 - 73.349 111.491
Nộp ngân sách nhà nước (tỷ đồng) 1.010,7 1.110,0 1.646,2 2.173,1
Tổng mức lỗ toàn ngành (tỷ đồng) 1.595 - - 569
Tổng mức lãi toàn ngành (tỷ đồng) 464 - - 1.963
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) - 2,633 4,089 2,880
  • Hạn chế và điểm nghẽn nội tại của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam:

    • Quy mô nhỏ bé, phân tán: Đến cuối năm 2006, có 49,32% số doanh nghiệp chỉ có quy mô từ 5 đến 9 lao động; số doanh nghiệp có từ 1.000 đến 4.999 lao động trên cả nước chỉ có 3 doanh nghiệp. Về vốn, 56,11% số doanh nghiệp có quy mô vốn từ 1 đến 5 tỷ đồng; số doanh nghiệp có quy mô vốn trên 500 tỷ đồng chỉ có 7 doanh nghiệp trên toàn quốc.
    • Kênh phân phối manh mún, nhiều tầng nấc trung gian: Kênh hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại) mới chỉ chiếm khoảng 10% thị phần lưu thông; chợ truyền thống chiếm 40%; cửa hàng bán lẻ độc lập chiếm 44%; nhà sản xuất bán thẳng chiếm 6%. Chi phí trung gian bị đội lên cao qua nhiều khâu phân tán (dẫn chứng: giá 1 kg tôm thu mua tại Thái Bình là 80.000 đồng, khi lưu thông qua chuỗi phân phối đến Hà Nội bị đẩy lên 120.000 đồng/kg).
    • Chất lượng nhân lực và chính sách xã hội thấp: 85,06% doanh nghiệp bán lẻ phải tự tổ chức đào tạo nội bộ do thiếu hụt trường đào tạo chuyên nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động sụt giảm, chỉ đạt 6,86% năm 2006 (giảm từ mức 11,17% năm 2000).
    • Hạ tầng công nghệ và quản trị yếu kém: Hầu hết chưa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO hay phần mềm tự động hóa chuỗi cung ứng (Tracking).
  • Thực trạng phân bố siêu thị và tương quan cạnh tranh:

    • Thống kê đến hết năm 2005, cả nước có 265 siêu thị tại 32 tỉnh, thành phố. Trong đó, Hà Nội có 101 siêu thị, TP. Hồ Chí Minh có 88 siêu thị (hai đô thị này chiếm trên 70% tổng số siêu thị cả nước), Hải Phòng chiếm 4%, Đà Nẵng chiếm 2%, các địa phương còn lại chiếm 24%.
Phân hạng siêu thị (năm 2005) Hà Nội TP. Hồ Chí Minh Địa phương khác Tổng số Tỷ trọng (%)
Loại I 4 12 12 28 10,6
Loại II 8 17 6 31 11,7
Loại III 60 31 28 119 44,7
Không thuộc loại nào (chưa đạt chuẩn) 29 28 30 87 33,0
Tổng cộng 101 88 76 265 100,0
  • So sánh tương quan giữa khối nội địa và khối ngoại:
    • Khối FDI: Metro Cash & Carry (Đức) sở hữu 8 trung tâm bán buôn/bán lẻ lớn tại các đô thị trọng điểm; Bourbon (Pháp) sở hữu 5 đại siêu thị Big C; Parkson (Malaysia) phát triển 10 trung tâm thương mại; Diamond Plaza (Hàn Quốc) có 1 trung tâm mua sắm lớn. Doanh thu một siêu thị nội địa lớn nhất chỉ đạt khoảng 200 tỷ đồng/năm, trong khi doanh thu bình quân một trung tâm Metro cao gấp 2 đến 3 lần con số này, doanh số cả hệ thống Metro đạt khoảng 1.700 tỷ đồng/năm.
    • Khối nội địa: Gồm các chuỗi lớn như Saigon Co.op (15 siêu thị Co.op Mart), Hapro (chuỗi 40 siêu thị và cửa hàng Hapro Mart), Satra (hệ thống Thương xá Tax, Siêu thị Sài Gòn, TTTM Đồng Khánh, Gia Định), Intimex (6 siêu thị), G7-Mart (chuỗi 500 cửa hàng tiện ích), Phú Thái (3 tổng kho, 20 trung tâm chuyên doanh phục vụ 95 nhà phân phối vệ tinh, 100 siêu thị, 500 đại lý, 2.000 cửa hàng bán lẻ), An Phong (5 siêu thị MaxiMart), Đông Hưng (7 siêu thị CitiMart), Nhất Nam (3 siêu thị FiviMart), Thiên Giang (3 siêu thị Sao).
    • Thực trạng liên kết: Mức độ liên kết giữa sản xuất và phân phối còn lỏng lẻo (dù hàng Việt Nam chiếm 70% tại siêu thị nhưng nguồn cung không ổn định). Điểm sáng liên kết là việc thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Hệ thống Phân phối Việt Nam với số vốn 6.000 tỷ đồng do 4 đơn vị sáng lập (Hapro, Satra, Saigon Co.op, Phú Thái) cùng sự ra đời của Hiệp hội Siêu thị Hà Nội.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trên thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO

Dựa trên kết quả phân tích hạn chế nội tại và sức ép mở cửa từ WTO, chương 3 tập trung đề xuất các định hướng giải pháp mang tính chiến lược cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam:

  • Giải pháp về tài chính và tích tụ vốn: Thúc đẩy hình thức liên doanh, góp vốn cổ phần, sáp nhập để gia tăng quy mô vốn kinh doanh; huy động vốn từ thị trường tài chính nhằm xây dựng các mặt bằng bán lẻ quy mô lớn và hệ thống tổng kho hiện đại.
  • Giải pháp về chuỗi cung ứng và hậu cần (Logistics): Tái cấu trúc kênh lưu thông, giảm bớt các tầng nấc trung gian để cắt giảm chi phí phân phối; thành lập các sàn giao dịch hàng hóa nông sản - thực phẩm; kết nối trực tiếp giữa vùng sản xuất của nông dân/hợp tác xã với hệ thống bán lẻ đô thị nhằm giải quyết bài toán chênh lệch giá đầu vào và giá bán lẻ.
  • Giải pháp hiện đại hóa công nghệ và quản trị: Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO; đầu tư phần mềm tự động hóa quản lý kho bãi, theo dõi đơn hàng (Tracking); phát triển các hình thức thương mại điện tử (B2B, B2C, C2C) kết hợp phương thức bán hàng tự chọn văn minh.
  • Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Đổi mới công tác đào tạo kỹ năng bán hàng, văn hóa kinh doanh và văn minh thương mại; nâng cao chế độ đãi ngộ, đảm bảo tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để giữ chân người lao động; đào tạo nâng cao kiến thức thực thi Luật Cạnh tranh nhằm chủ động đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ đối thủ.
  • Giải pháp liên kết chuỗi và hiệp hội ngành hàng: Phát huy vai trò của các mô hình liên minh phân phối quy mô lớn (như Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Hệ thống Phân phối Việt Nam) và các hiệp hội ngành nghề để thống nhất nguồn hàng, kiểm soát chất lượng, bài trừ nạn hàng giả hàng nhái và nâng cao năng lực đàm phán với các nhà cung ứng lớn.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu thực trạng kinh tế ngành bán lẻ: Công trình tổng hợp chuỗi số liệu kinh tế hoàn chỉnh giai đoạn 2000 – 2006 về biến động số lượng doanh nghiệp (tăng 216,7%), cơ cấu lao động (144.649 người), nguồn vốn (48.353 tỷ đồng), doanh thu thuần (111.491 tỷ đồng), số nộp ngân sách (2.173,1 tỷ đồng) và xu hướng sụt giảm lỗ lũy kế của toàn ngành.
  • Định lượng tương quan cạnh tranh giữa doanh nghiệp nội và ngoại: Khóa luận chỉ ra sự chênh lệch rõ rệt về hiệu suất thương mại: một siêu thị nội địa quy mô lớn chỉ đạt doanh thu tối đa khoảng 200 tỷ đồng/năm, trong khi doanh thu bình quân một trung tâm Metro Cash & Carry cao gấp 2 đến 3 lần và tổng doanh thu hệ thống Metro đạt khoảng 1.700 tỷ đồng.
  • Làm rõ cấu trúc phân chia thị trường phân phối hàng hóa: Khóa luận xác định tỷ trọng lưu thông hàng hóa trên thị trường Việt Nam gồm: 10% qua kênh phân phối hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại), 40% qua hệ thống chợ truyền thống, 44% qua cửa hàng bán lẻ độc lập và 6% do nhà sản xuất trực tiếp bán lẻ.
  • Đóng góp về mặt phương pháp luận và pháp lý: Xây dựng khung 8 chỉ tiêu lượng hóa năng lực cạnh tranh bán lẻ gắn với công thức tính điểm tổng hợp $DSCTDN$; tổng hợp tiêu chuẩn phân loại 265 siêu thị trên 32 tỉnh, thành phố năm 2005 theo Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM và phân tích các chế định bảo vệ thị trường của Luật Cạnh tranh 2004.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình:
    • Tác giả chưa thể tiếp cận toàn văn báo cáo nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và xu hướng phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam của tổ chức Euromonitor International công bố năm 2004 do rào cản chi phí dữ liệu quá cao.
    • Số liệu thống kê thực trạng dừng lại ở mốc cuối năm 2006, chưa phản ánh đầy đủ diễn biến thực tế của thị trường trong các năm tiếp sau khi Việt Nam chính thức thực thi toàn diện các lộ trình cam kết mở cửa bán lẻ theo từng mốc thời gian của WTO.
    • Phạm vi khảo sát sâu tập trung chủ yếu vào nhóm loại hình thương mại hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng tiện ích) tại các vùng đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), chưa khảo sát thực nghiệm chi tiết đối với khu vực thị trường nông thôn rộng lớn với hơn 60 triệu dân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động định lượng của làn sóng thâm nhập từ các tập đoàn bán lẻ 100% vốn nước ngoài vào Việt Nam theo lộ trình cam kết WTO sau năm 2008 – 2010.
    • Nghiên cứu chuyên biệt về hành vi tiêu dùng và giải pháp phát triển mạng lưới phân phối hiện đại tại thị trường khu vực nông thôn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại, Quản trị kinh doanh; cán bộ hoạch định chính sách thương mại nội địa; ban lãnh đạo các doanh nghiệp phân phối, siêu thị và chuỗi bán lẻ tại Việt Nam.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng tổng hợp tiêu chí phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại theo Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM phục vụ công tác quy hoạch mặt bằng thương mại.
    • Hệ thống chỉ tiêu và công thức xác định điểm năng lực cạnh tranh tổng hợp ($DSCTDN$) có thể ứng dụng trực tiếp để đo lường sức khỏe doanh nghiệp bán lẻ.
    • Chuỗi số liệu lịch sử về doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006 làm cơ sở dữ liệu so sánh trong các công trình nghiên cứu phát triển ngành thương mại thời kỳ hội nhập WTO.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM, các tiêu chuẩn diện tích và danh mục hàng hóa để phân hạng siêu thị kinh doanh tổng hợp được quy định như thế nào?
Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM phân siêu thị kinh doanh tổng hợp thành 3 hạng:

  • Hạng I: Diện tích kinh doanh từ 5.000 m² trở lên, danh mục kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên.
  • Hạng II: Diện tích kinh doanh từ 2.000 m² trở lên, danh mục kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên.
  • Hạng III: Diện tích kinh doanh từ 500 m² trở lên, danh mục kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên.

2. Cơ cấu quy mô vốn và lao động của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam năm 2006 bộc lộ những đặc điểm gì?
Năm 2006, phần lớn doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có quy mô siêu nhỏ: 49,32% số doanh nghiệp chỉ có từ 5 đến 9 lao động (toàn quốc chỉ có 3 doanh nghiệp có từ 1.000 đến 4.999 lao động); 56,11% số doanh nghiệp có quy mô vốn từ 1 đến 5 tỷ đồng, trong khi số doanh nghiệp có quy mô vốn trên 500 tỷ đồng trên toàn quốc chỉ đạt 7 doanh nghiệp.

3. Thị phần lưu thông hàng hóa bán lẻ tại Việt Nam được phân bổ qua các kênh nào?
Thị phần bán lẻ hàng hóa được phân bổ qua 4 kênh chính: kênh chợ truyền thống chiếm 40%, kênh cửa hàng bán lẻ độc lập chiếm 44%, kênh phân phối hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi) chiếm 10% và kênh nhà sản xuất bán trực tiếp chiếm 6%.

4. Khóa luận đưa ra số liệu nào để chứng minh sự chênh lệch doanh thu giữa siêu thị trong nước và tập đoàn bán lẻ nước ngoài?
Vào thời điểm nghiên cứu, một siêu thị bán lẻ nội địa có quy mô lớn nhất chỉ đạt doanh thu khoảng 200 tỷ đồng/năm. Trong khi đó, doanh thu bình quân của một trung tâm trong hệ thống Metro Cash & Carry (Đức) cao gấp 2 đến 3 lần mức này (đạt khoảng 400 - 600 tỷ đồng/năm) và tổng doanh số cả hệ thống Metro đạt xấp xỉ 1.700 tỷ đồng/năm.

5. Liên minh phân phối quy mô lớn nào đã được thành lập giữa các doanh nghiệp bán lẻ hàng đầu nội địa để gia tăng sức cạnh tranh?
Đó là Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Hệ thống Phân phối Việt Nam với quy mô vốn điều lệ 6.000 tỷ đồng, được hình thành từ sự liên kết của 4 doanh nghiệp phân phối hàng đầu trong nước gồm: Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro), Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (Satra), Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) và Tập đoàn Phú Thái.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân phối bán lẻ và các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh, đồng thời phân tích chi tiết khung pháp lý liên quan đến quản lý siêu thị và Luật Cạnh tranh. Công trình phản ánh thực trạng phát triển nhanh về số lượng nhưng còn yếu kém về quy mô vốn, công nghệ, nhân lực và mức độ liên kết của hệ thống bán lẻ nội địa giai đoạn 2000 – 2006. Trên cơ sở đối chiếu tương quan cạnh tranh với các tập đoàn phân phối nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khóa luận đã đề xuất các nhóm giải pháp thiết thực nhằm giúp doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nâng cao vị thế và duy trì thị phần trên thị trường nội địa.