CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ðẾN CHỦ ðỀ ðỀ TÀI 1. Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh trong cung ứng sản phẩm/dịch vụ nói riêng ñã ñược nghiên cứu từ rất lâu. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách có hệ thống lại bắt ñầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 ñến nay. Porter, chuyên gia hàng ñầu thế giới về năng lực cạnh tranh, chỉ ra rằng cho ñến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa ñược hiểu một cách ñúng ñắn, ñầy ñủ và chưa có một ñịnh nghĩa nào ñược chấp nhận một cách thống nhất.
Khi tổng thuật tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả như Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005) chỉ ra rằng, bắt ñầu từ những năm 1990 ñến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ bùng nổ với số lượng công trình nghiên cứu ñược công bố rất lớn. Theo Thorne, các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tập trung lại theo 3 cách tiếp cận sau: lý thuyết thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin. - Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới mặt cung, chủ yếu quan tâm tới khâu “bán hàng” của người sản xuất – kinh doanh. Theo cách tiếp cận này, tiêu chí ñầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả và do ñó sự khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ ñược coi là tiêu chí chính ñể ño lường năng lực cạnh tranh.
Lý thuyết này chưa chú trọng ñúng mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng như các yếu tố môi trường kinh doanh. Theo Van Duren và các cộng sự (1991), cách tiếp cận này dẫn tới những sai lầm cố hữu do chưa chú trọng ñúng mức ñến sự khác biệt về chất lượng sản phẩm, cách tiếp thị và những dịch vụ hậu mãi của công ty. ðể khắc phục hạn chế của cách tiếp cận thương mại truyền thống, cần kết hợp mặt cung với mặt cầu hàng hóa, dịch vụ khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh công ty. - Lý thuyết tổ chức công nghiệp gọi tắt là IO (Industrial Organization), ñược tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành (Structure of industry), vận hành hay chiến lược (Conduct/strategy) của công ty và kết quả kinh doanh (Performance) của ngành, còn gọi là mô hình SCP (StructureConduct Performance) hay mô hình Bain-Masson.
ðiểm then chốt của mô hình IO là kết quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu của ngành mà các công ty ñang cạnh tranh với nhau. Cơ cấu của ngành quyết ñịnh hành vi (chiến lược kinh doanh) của công ty và ñiều này sẽ dẫn ñến kết quả kinh doanh ngành [37]. Mô hình SCP─ñược củng cố bởi lý thuyết cạnh tranh nhóm (oligopoly theory)─rất hữu ích trong việc hình thành chiến lược và ñánh 7 giá bản chất cạnh tranh trong ngành. Mô hình này cũng giúp chúng ta phân tích kết quả kinh doanh của ngành (các công ty trong ngành) và nhận dạng tiềm năng của từng ngành kinh doanh (các ngành khác nhau có hiệu quả kinh doanh khác nhau).
Cũng cần chú ý là ñơn vị phân tích (unit of analysis) trong lý thuyết IO nguyên thủy là ngành, vì vậy nó không có hữu ích nhiều khi phân tích và so sánh kết quả kinh doanh của các công ty khác nhau trong cùng ngành. Những phát triển tiếp theo của IO ñã chuyển ñơn vị phân tích vừa là công ty vừa là ngành [37]. Porter là một trong người tiên phong trong ứng dụng lý thuyết IO trong xây dựng chiến lược, ñặc biệt là mô hình năm lực cạnh tranh, trong ñó cơ cấu ngành là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh. Mô hình này ñược sử dụng rất rộng rãi trong phân tích cạnh tranh của ngành.
- Cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin, còn gọi là cạnh tranh ñộc quyền (monopolistic competition), tập trung vào sự khác biệt (differentiation) của sản phẩm và dịch vụ. Mô hình cạnh tranh trong IO và mô hình cạnh tranh ñộc quyền trong kinh tế học Chamberlin ñều chú trọng vào việc giải thích chiến lược (C) của công ty và kết quả kinh doanh (P) trong cạnh tranh. Tuy nhiên, như ñã giới thiệu, mô hình IO bắt ñầu bằng việc tập trung vào cơ cấu (S) của ngành và tiếp theo là hành vi/chiến lược (C) và kết quả (P). Kinh tế học Chamberlin bắt ñầu thông qua việc tập trung vào năng lực ñặc biệt của công ty và tiếp theo là theo dõi tác ñộng của sự khác biệt này vào chiến lược và kết quả kinh doanh mà công ty theo ñuổi.
Cạnh tranh trong ngành dựa vào sự khác biệt của các công ty và ñây chính là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của công ty. Hơn nữa, chiến lược của công ty làm thay ñổi cơ cấu của ngành [32]. Cũng cần chú ý thêm là trong mô hình cạnh tranh Chamberlin, công ty vẫn tập trung vào mục tiêu tối ña hóa lợi nhuận thông qua việc xác ñịnh doanh thu biên tế (marginal revenue) bằng với chi phí biên tế (marginal cost) như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tuy nhiên, nếu thành công trong khác biệt sẽ ñem lại lợi nhuận vượt mức (excess profit).
Vì vậy, chiến lược kinh doanh của công ty ñóng vai trò quan trọng thông qua việc tận dụng hiệu quả nguồn lực khác biệt của công ty. Hai là, mô hình cạnh tranh trong kinh tế học IO và Chamberlin không ñối kháng nhau mà chúng bổ sung lẫn nhau. Cơ cấu ngành ảnh hưởng rất lớn ñến chiến lược tận dụng lợi thế khác biệt của công ty trong việc xác ñịnh chiến lược cạnh tranh. Kinh tế học IO cũng thừa nhận lợi thế khác biệt quyết ñịnh rất lớn ñến chiến lược kinh doanh mà công ty theo ñuổi.
Và, những lợi thế khác biệt này của công ty chính là cơ sở cho lý thuyết nguồn lực của công ty [35]. Mô hình cạnh tranh trong IO nói chung và của Porter nói riêng có nhiều ưu ñiểm cũng như nhược ñiểm. Ưu ñiểm cơ bản của cạnh tranh theo IO và mô hình năm lực cạnh tranh của Porter giúp chúng ta nắm bắt ñược cách thức công ty ñạt ñược lợi thế cạnh tranh thông qua việc xác ñịnh vị trí phù hợp của công ty dựa vào cơ cấu của 8 ngành mình ñang kinh doanh và lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp với cơ cấu ngành ñó. Tuy nhiên, lý thuyết về IO và mô hình cạnh tranh của Porter nhìn các ngành ở trạng thái cân bằng, do vậy, lợi thế cạnh tranh ñạt ñược mang tính bền vững [54].
Kinh tế học tổ chức IO phân tích cạnh tranh trong ñiều kiện cân bằng của thị trường sẽ rất hạn chế trong việc xem xét ñộng cơ cũng như kết quả của các sáng chế, phát minh (innovation). Kinh tế học Schumpeter, dựa trên cơ sở của trường phái kinh tế học Áo (Austrian economics [41]), nhấn mạnh vào quá trình biến ñộng của thị trường ở dạng ñộng (action and market process─market dynamics). Công ty ñạt ñược lợi thế cạnh tranh nhờ vào khả năng khám phá (entrepreneurial discovery) và hành ñộng cạnh tranh sáng tạo (innovative competitive action [45]). Một ñiểm quan trọng nữa là cạnh tranh trong kinh tế học Áo nhấn mạnh vai trò của tri thức và học hỏi trong thị trường cạnh tranh ñộng (dynamic competitive markets).
Tri thức liên tục thay ñổi sẽ dẫn ñến thị trường thay ñổi và sự thay ñổi này tạo ra bất cân bằng thị trường (disequilibrium). ðiều này ñem lại cơ hội mới về lợi nhuận cho công ty [54]. Với cách nhìn thị trường ở dạng ñộng, tuy rằng ñơn vị phân tích của kinh tế học Schumpeter là ngành và nền kinh tế [45], trường phái cạnh tranh này là một cơ sở cho lý thuyết về năng lực ñộng của công ty. Một số nhà nghiên cứu ñã có những công trình nghiên cứu công phu về năng lực cạnh tranh.
Chẳng hạn như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc các tác giả người Mỹ như Henricsson và các cộng sự (2004)… ñã hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu và ño lường năng lực cạnh tranh theo 3 loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt ñộng, năng lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh theo quá trình. Năng lực cạnh tranh hoạt ñộng là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt ñộng kinh doanh trên thực tế như: thị phần, năng suất lao ñộng, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ tiêu này, công ty có năng lực cạnh tranh cao khi có các chỉ tiêu hoạt ñộng kinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao ñộng cao, thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp… Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công nghệ, lao ñộng. Theo ñó, các công ty có năng lực cạnh tranh cao là những công ty sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao ñộng, công nghệ, ñồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này. Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh.
Các quá trình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp (sản xuất, chất lượng…). 9 Theo thống kê trong nghiên cứu của Momaya và các cộng sự (2005), hướng nghiên cứu coi năng lực cạnh tranh như quá trình duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh ñược nhiều nhà nghiên cứu chú trọng và phát triển nhất cho ñến nay. Như vậy, cho ñến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhiều trường phái và cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, do ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh nên bất chấp những bất ñồng trong lý luận, một số nước như Mỹ, Anh và các tổ chức quốc tế, các cá nhân như Diễn ñàn Kinh tế Thế giới (WEF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Viện Phát triển quản lý (IMD), Công ty Standard & Poor’s, Công ty Moody’s, Micheal E.
Porter… vẫn nghiên cứu và công bố các kết quả tính toán năng lực canh tranh ở các cấp ñộ: quốc gia, ngành, công ty và sản phẩm. Các kết quả này ñược rất nhiều quốc gia, công ty quan tâm và tham khảo.