Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH vận tải Bách Việt trong hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Chương 4: Định hướng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH vận tải Bách Việt trong hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2.1 Khái quát về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Khái niệm dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Trong hoạt động thương mại quốc tế, người bán và người mua là các doanh nghiệp có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, dẫn tới bài toán về khoảng cách lớn giữa nhà máy sản xuất và địa điểm nhận hàng. Bởi vậy, việc di chuyển hàng hoá do người vận chuyển đảm nhận đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế. Đây là một khâu tất yếu, là vấn đề cần đàm phán ngay từ khi thương lượng ký kết hợp đồng thương mại quốc tế. Để cho quá trình vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu được bắt đầu – tiếp tục – kết thúc, tức là hàng hoá đến được với người mua, cần thực hiện hàng loạt các công việc khác liên quan đến quá trình vận chuyển như đóng hàng, đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp dỡ, giao nhận cho người nhận ở cảng đích.
Tất cả những công việc này được gọi chung là nghiệp vụ giao nhận – Forwarding., Có thể hiểu, giao nhận là một hoạt động kinh tế rất rộng liên quan đến hầu hết các công việc trong quá trình đưa hàng hoá từ nơi gửi đên nơi nhận nhanh chóng và hiệu quả nhất. Các dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đang dần trở thành nhóm dịch vụ mang lại doanh thu lớn cho các doanh nghiệp trong ngành khi nhu cầu sử dụng các dịch vụ bổ trợ trong xuất nhập khẩu hàng hoá ngày càng lớn, tiềm năng và lợi nhuận đều tăng dần trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế mạnh mẽ. Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ giao nhận (Frieght Forwarding Services). Theo quy tắc mẫu về dịch vụ giao nhận vận tải của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế (FIATA) thì giao nhận vận tải được định nghĩa như sau: "Giao nhận vận tài là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá".
8 Ngày 29/10/2004, Hiệp hội FIATA đã phối hợp với Hiệp hội Châu Âu về các dịch vụ giao nhận, vận tải, logistics và hải quan (European Asociation for Forwarding, Transport, Logistics and Custom Services - CLECAT) đã đi đến thống nhất khái niệm về dịch vụ giao nhận vận tải và logistics, đó là: “Giao nhận vận tải là tất cả các dịch vụ nào liên quan đến chuyên chở (được thực hiện bởi một hoặc nhiều phương tiện vận tải), gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vấn đề hải quan hay tài chính, khai báo hàng hoá cho những mục đích chính thức, mua bảo hiểm cho hàng hoá và thu tiền hay lập các chứng từ liên quan đến hàng hoá. Dịch vụ giao nhận bao gồm có dịch vụ logistics cùng với công nghệ thông tin hiện đại liên quan chặt chẽ đến quá trình vận tải, xếp dỡ hoặc lưu kho bãi và quản lý chuỗi cung ứng trên thực tế. Những dịch vụ này có thể được cung cấp để đáp ứng với việc áp dụng linh hoạt các dịch vụ được cung cấp". Theo Điều 163, Luật Thương mại Việt Nam 1997: “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng).” Tại Việt Nam, dịch vụ giao nhận lần đầu tiên được đề cập tại điều 163 Luật Thương mại 1997 với nội dung tương tự như khái niệm của FIATA: “Giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác”.
Nói một cách ngắn gọn, dịch vụ giao nhận là tập hợp các dịch vụ thương mại có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoá từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng), trong đó người giao nhận (freight forwarder) ký hợp đồng vận chuyển với chủ hàng, đồng thời cũng ký hợp đồng đối ứng với người vận tải để thực hiện dịch vụ. Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác. 9 Như vậy, dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển chính là một phần của dịch vụ giao nhận hàng hoá nói chung nhưng giới hạn ở phương thức vận tải đường biển, bao gồm những công việc, nghiệp vụ tư vấn cước tàu, đặt tàu, đóng hàng, vận tải nội địa, lưu kho, lưu bãi, khai báo hải quan, các vấn đề về bảo hiểm, tài chính. Khi chỉ xét đến phương thức vận tải đường biển, các dịch vụ giao nhận hàng hoá sẽ được giới hạn trong việc sử dụng tàu thuyền, bến bãi, cảng biển và hạ tầng máy móc, thiết bị tại cảng biển hoặc của các hãng tàu biển nhằm đưa hàng hoá từ kho của người bán đến địa điểm chỉ định của người mua thông qua đường biển.
Đặc điểm của dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển: Dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển là một trong những loại hình dịch vụ giao nhận phổ biến hiện nay bởi những ưu thế của chính phương thức vận tải đường biển. Nó mang những đặc điểm chung của dịch vụ giao nhận vận tải như tỉnh vô hình, tính không lưu trữ, tỉnh không sở hữu, tính thay đổi và thích ứng, tính chuyên môn của các chủ thể tham gia, tính đa dạng của nội dung dịch vụ. Tính vô hình: Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển mang tính vô hình bởi nó không được cân đo đong đếm về hình dáng, đặc điểm, màu sắc như các sản phẩm hữu hình thông thường. Khách hàng sẽ dựa trên các tiêu chí về chất lượng dịch vụ để có được những đánh giá khách quan như: Hàng hoá có được giao nhận đúng theo kế hoạch, lịch trình không, thời gian xử lý các chứng từ, thủ tục liên quan, các chi phí phát sinh khi lưu kho, kéo vỏ hay tính nguyên vẹn của lô hàng trong quá trình giao nhận.
Như vậy, các dịch vụ này đều không thể nhìn thấy bằng mắt, cảm nhận bằng xúc giác vì nó là tập hợp các tác động làm dịch chuyển hàng hoá từ nơi gửi đến nơi nhận. Tính không lưu trữ: Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển mang tính chất của loại hình dịch vụ nói chung, tức là nó không thể được lưu trữ cho các lần sử dụng sau mà chỉ có hiệu lực vào thời điểm các doanh nghiệp giao nhận cung ứng dịch vụ của họ cho khách hàng. Điều này khiến giá trị của các dịch vụ này chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định và không được kéo dài liên tiếp thông qua quá trình lưu trữ như hàng hoá thông thường. Tính không sở hữu: Các quyền lợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển chỉ dừng lại ở ở hiệu quả vận chuyển hàng hoá vô 10 hình.
Khách hàng tiêu dùng dịch vụ sẽ không có quyền khẳng định sự sở hữu với các trang thiết bị, cơ sở hạ tầng tham gia trong suốt quá trình giao nhận. Cụ thể, quyền lợi của khách hàng sẽ là sự dịch chuyển an toàn, đảm bảo của hàng hoá theo đúng mong muốn của họ theo thoả thuận trên hợp đồng dịch vụ, ngoài đó ra, khách hàng sẽ không phải là chủ sở hữu của các phương tiện vật chất liên quan như tàu thuyền, xe vận tải nội địa hay vỏ container rỗng chứa hàng. Tỉnh thay đổi và thích ứng: Đây là đặc điểm phù hợp với bối cảnh của thị trường giao nhận hàng hoá quốc tế khi các biến động về chính trị, chiến tranh, các chính sách bảo hộ thương mại, các biện pháp trừng phạt kinh tế đều là các tác nhân ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá toàn cầu. Khác với các sản phẩm thông thường mang các đặc tính vật lý cố hữu và khi có nhu cầu thay đổi phải triển khai trên cả dây chuyền sản xuất, dẫn đến những rào cản và phát sinh chi phí, các dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển sẽ mang tính thích ứng cao hơn.
Sự linh hoạt được quyết định bởi khả năng quan sát và nhìn nhận thị trường của chính nhà cung ứng. Ngoài ra, các nhân tố khách quan như biến động của thị trường lao động, các mùa cao điểm vận tải hàng hoá,. cũng có ảnh hưởng lớn đến các thay đổi về dịch vụ giao nhận. Tính chuyên môn của các chủ thể tham gia: Các chủ thể tham gia dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển bao gồm thương nhân kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá và khách hàng.
Dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển do thương nhân thực hiện một cách chuyên nghiệp.