CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ SỬ DỤNG MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Một số vấn đề cơ bản của cạnh tranh 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được nhắc đến rất nhiều trong những năm gần đây.
Nhất là khi tự do hóa thương mại ngày càng được mở rộng thì cạnh tranh là cách thức để DN đứng vững và phát triển. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh đưa ra. Cạnh tranh được phát biểu là sự tranh đua nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau.[13] Theo từ điển thương mại Anh - Pháp - Việt thì vấn đề cạnh tranh được nói đến một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn: Cạnh tranh là tình trạng giành giật nhau về khách hàng và thị trường.[8] Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản ĐVN cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. [2] Khi nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân,…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.” [4] 4 Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.”[6] Với nhiều cách hiểu khác nhau, từ đó có nhiều khái niệm về cạnh tranh được đưa ra nhưng chung quy lại về bản chất các khái niệm đưa ra đều thống nhất về nội dung: cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận (LN) và lợi thế trên thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh thể hiện đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp cho DN và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh.
Có thể thấy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự phát triển kinh tế của mỗi DN và mỗi quốc gia. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong cạnh tranh sẽ có người có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu, khả năng cạnh tranh này gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của DN, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”.
[6] Một DN được coi là có năng lực cạnh tranh khi DN đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. 5 Năng lực cạnh tranh của DN là thực lực và lợi thế mà DN có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các DN khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao. Theo Wikipedia định nghĩa thì: “Năng lực cạnh tranh của DN là sự thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu LN ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được LN ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường”. Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Poter: “Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó.
Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì DN đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế”. [10] Theo Humbert Lesca: “Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng, năng lực mà DN có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức LN ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của DN”. Hoặc năng lực cạnh tranh của DN còn được định nghĩa là khả năng cạnh tranh của DN nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất.
Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh chính là khả năng sử dụng các khả năng sử dụng các nguồn lực đã được kết hợp một cách có mục đích để giành lấy lợi ích về phía mình 1. Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh 6 Từ các khái niệm trên, có thể hiểu nâng cao năng lực cạnh tranh là tổng hợp các biện pháp, giải pháp để có thể tăng cường các thế mạnh của các nguồn lực, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh, vượt qua các đối thủ khác, giành lấy thị phần và khách hàng về phía mình. Nâng cao năng lực cạnh tranh là hoạt động vô cùng cần thiết và mang tính cấp thiết đối với tất cả các DN hiện nay. Đặc biệt, đối với các DN Việt Nam, trước thực tiễn hội nhập kinh tế và sự yếu kém vốn có, muốn tồn tại và phát triển thì DN cần nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một hiện tượng tất yếu xẩy ra đặc biệt là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Cạnh tranh có tác dụng rất tích cực “thúc đẩy con người nỗ lực hơn, sáng tạo, tăng năng suất lao động, làm cho quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ yếu diễn ra thông qua thị trường và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trường và tự do cạnh tranh có thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu, sản lượng, phân công lao động, tạo sự cân bằng cung cầu xã hội mà không cần sự can thiệp của Nhà nước” Bên cạnh những tích cực thì cạnh tranh cũng mang lại tiêu cực cho nền kinh tế. Do chạy theo LN nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, nó vừa là động lực tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh tàn phá nặng nề. Sự đào thải không khoan nhượng những DN kinh doanh không hiệu quả. Mặc dù sự đào thải đó là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan nhưng nó lại gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế, xã hội to lớn như: nạn thất nghiệp tăng, mất ổn định xã hội,.
Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để dành chiến thắng trên thương trường như: gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé, lũng loạn thị trường. Như vậy lợi ích người tiêu dùng bị xâm phạm và cuối cùng cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng không tốt. 7 Với những đóng góp của cạnh tranh trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động hữu hiệu của nền kinh tế thị trường. DN cần nhận thức được các vai trò quan trọng của nó cũng như những mặt tích cực, tiêu cực của cạnh tranh mang lại để vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất đối với những hoạt động của DN.
Các loại hình cạnh tranh 1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường - Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người mua muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất. Còn người bán lại muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất. Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá cả được thống nhất giữa người bán và người mua sau một quá trình mặc cả.
Cạnh tranh giữa người mua và người bán là cạnh tranh phổ biến trên tất cả các thị trường sản phẩm dịch vụ. - Cạnh tranh giữa người bán và người bán: Đây là cuộc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng hóa để tranh giành khách hàng và chiếm thị trường. Dẫn đến giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống có lợi cho người mua. - Cạnh tranh giữa người mua với người mua: Dựa trên cơ sở cung cầu trên thị trường, mức độ cạnh tranh sẽ thay đổi.
Khi lượng cung nhỏ hơn lượng cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng, cạnh tranh trở nên gay gắt. Người mua phải chấp nhận giá cao hơn để mua được thứ mà họ cần. Đây chính là cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các DN cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hóa.
Nhằm giành giật điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất để thu được LN siêu ngạch. - Cạnh tranh giữa các ngành với nhau: Các DN ở các ngành kinh tế cạnh tranh với nhau với mục đích thu lợi nhuận cao nhất. Ở đây có sự phân bổ vốn đầu tư giữa các ngành kinh tế một cách tự nhiên từ đó sẽ hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.