CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh, vai trò của cạnh tranh Theo Luật cạnh tranh (2014)1, cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường, qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn.
Bà Phạm Thị Liên (2021)2, công ty tư vấn luật Minh Khuê cho rằng, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, với khách hàng và chính doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ đó. Dựa trên quan điểm này, phân tích dưới đây sẽ trình bày sâu hơn về vai trò của cạnh tranh đối với hai chủ thể chính, tác động trực tiếp qua lại đến nhau: doanh nghiệp và khách hàng, để từ đó thấy rõ hơn mối liên hệ mật thiết giữa cạnh tranh và khả năng cạnh tranh – hay nói cách khác, là làm thế nào để cạnh tranh tốt hơn. + Đối với doanh nghiệp, có thể nói cạnh tranh có 3 tác động chính: − Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ, mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. − Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
Nếu ngành doanh nghiệp đang kinh doanh thuộc sở hữu độc quyền, ít hoặc không có đối thủ cạnh tranh, thì thường dẫn đến tính trạng độc tài, dậm chân tại chỗ về phương pháp kinh doanh. Trong ngữ cảnh ngược lại, khi càng ngày càng có nhiều đối thủ xuất hiện với nhiều công cụ khoa học tiên tiến hơn trên thị trường, nếu chính doanh nghiệp vẫn muốn tồn tại, tìm kiếm lợi nhuận thì 1 Luật cạnh tranh, 2014. 2 Phạm Thị Liên, Tư vấn luật cạnh tranh: “Khái niệm và bản chất của cạnh tranh”, Công ty luật Minh Khuê, 2021. 12 buộc doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu thích nghi, đầu tư nghiên cứu để cho ra sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất cho khách hàng.
− Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Trong quá trình liên tục thích nghi với thị trường nêu trên, lợi nhuận thu về và niềm tin của khách hàng chính là kết quả minh bạch nhất cho việc “cạnh tranh thành công”. + Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà quyền lợi của người tiêu dùng được nâng cao, họ có nhiều cơ hội để so sánh về giá, chất lượng, mức độ đa dạng của sản phẩm nhiều hơn, phù hợp với nhu cầu của mình. Việc phân tích vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng giúp đưa ra một kết luận căn bản và mấu chốt: tăng khả năng cạnh tranh chính là tăng độ cạnh tranh trên thị trường, giúp quyết định sự sống còn và phát triển, khẳng định vị thế của doanh nghiệp; không chỉ mang lại doanh thu mà còn tác động đến sự uy tín, trách nhiệm của doanh nghiệp tới niềm tin của khách hàng.
Khái niệm năng lực cạnh tranh. Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh Những khái niệm về năng lực cạnh tranh đã xuất hiện lần đầu tiên vào đầu những năm 1990 tại Mỹ. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Vào năm 1998, ông tiếp tục điều chỉnh và đưa ra quan điểm về năng lực cạnh tranh: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Porter cho rằng, để có thể cạnh tranh thành công, doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh, có chi phí sản xuất thấp hơn hoặc có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình.3 Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác 3 M. Porter, Competitive Strategy, 1990. 13 định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”.
4 Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Tức doanh nghiệp phải có khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác.5 Tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004) trong tác phẩm Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu khẳng định việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh, chiến lược kinh doanh của mình.6 Tác giả Lê Đăng Doanh (2010) đã đề cập “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước” trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập. Đỗ Xuân Đại (2016) kết luận rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài của doanh nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị thế so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.”8 Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp9. Tác giả Trần Sửu (2005)10 và Ths.
Hoàng Văn Minh 4 Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh, Năng lực cạnh tranh, 1998. 5 Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại, 1997. 6 Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu, 2004. 7 Lê Đăng Doanh, Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập, 2010.
8 Đỗ Xuân Đại, Luận văn thạc sĩ Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực xây lắp của Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng, 2016. 9 Vũ Trọng Lâm, Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2006. 10 Trần Sửu, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa, 2005. 14 (2018)11 cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra được năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.
“Năng lực cạnh tranh” là một thuật ngữ được sử dụng với tần suất rất cao trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tuy nhiên định nghĩa về nó vẫn là quan điểm đến từ nhiều góc độ khác nhau, đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Từ góc nhìn và đánh giá của các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu trên; khái niệm về năng lực cạnh tranh có thể được thừa nhận như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là khả năng biết tận dụng hoặc đối phó với các yếu tố ngoại sinh và đối thủ, nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, chiếm lĩnh thị phần, mang lại lợi nhuận và phát triển bền vững. Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho từng nhóm ngành và từng doanh nghiệp. Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Sự tồn tại của cạnh tranh được ví như động lực thúc đẩy các doanh nghiệp buộc phải cải tiến lợi thế bên trong lẫn bên ngoài để phát triển và vươn xa hơn, nhằm cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước lẫn nước ngoài, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay.
Họ có tiềm lực mạnh mẽ về tài chính, công nghệ khoa học và nghệ thuật quản lý, nên việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp là vô cùng cấp bách. Như vậy mới có thể giữ vững được sức mạnh và vị thế trong nền kinh tế thị trường gay gắt. Thực hiện các biện pháp nâng cao khả năng cạnh giúp cho các doanh nghiệp nhận thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của doanh nghiệp mình, từ đó phát điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu kém của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh và quản lý doanh nghiệp. Thêm vào đó, nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng tối ưu 11 Hoàng Văn Minh, Bài nghiên cứu Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh, 2018.
15 các nguồn lực sẵn có như vốn, công nghệ, hay nguồn nhân lực. Và điều quan trọng hơn là nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp có vị trí nhất định trên thị trường, tiến xa hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Công cụ cạnh tranh 1. Lợi thế cạnh tranh Tương tự như khái niệm “cạnh tranh”, thuật ngữ “lợi thế cạnh tranh” đã xuất hiện từ những năm 1980, sau đây là một số định nghĩa nổi bật và được công nhận rộng rãi về “lợi thế cạnh tranh”: + Michael Porter (1985) cho rằng lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng, các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.