phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục biểu đồ, danh mục chữ viết tắt, đề tài đƣợc bố cục thành ba chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về NLCT của DN Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của MATEXIM Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của (MATEXIM) 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về cạnh tranh của DN 1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Quan niệm về cạnh tranh đƣợc các nhà nghiên cứu trình bày dƣới nhiều góc độ khác nhau và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của các nền kinh tế xã hội.
Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp - các hoạt động sản xuất kinh doanh đều đƣợc chỉ đạo từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Quan hệ cung cầu cũng nhƣ tất cả các quy luật của KTTT không đƣợc tồn tại theo đúng nghĩa của nó. Không có sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế với nhau vì không xuất hiện mâu thuẫn vì lợi ích. “Dƣới thời kỳ Chủ nghĩa tƣ bản phát triển vƣợt bậc, Mác đã có quan niệm toàn diện về khái niệm “ Cạnh tranh chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch”.
Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hoá tƣ bản chủ nghĩa (TBCN) và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là: quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao hơn sẽ có nhiều ngƣời quan tâm và tham gia. Ngƣợc lại, những ngành, lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ diễn ra sự thu hẹp về quy mô hoặc là sự rút lui của các nhà đầu tƣ. Tuy nhiên sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tƣ không dễ dàng một sớm, một chiều thực hiện đƣợc mà là cả một chiến lƣợc lâu dài đòi hỏi phải có sự tính toán kỹ lƣỡng.” Một khi nền kinh tế thế giới ngày càng hội nhập và hoà đồng giữa các nền kinh tế với nhau, cơ chế hoạt động phổ biến là cơ chế thị trƣờng có sự quản lý và điều tiết của NN thì khái niệm cạnh tranh mất hẳn tính giai cấp, tính chính trị nhƣng về bản chất vẫn không thay đổi.
Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua 6 giữa các tổ chức, các DN nhằm đạt đƣợc những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt đƣợc những mục tiêu của tổ chức, DN đó. “Cạnh tranh đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành đƣợc ƣu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh.” Chiếu theo từ điển kinh doanh ( đƣợc xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”. “Ngày nay trong nền KTTT có sự điều tiết của NN hoặc là nền KTTT tự do, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trƣờng động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung. Nhƣ vậy, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là nội dung cơ bản trong cơ chế vận động của thị trƣờng.
Sản xuất hàng hoá càng phát triển hàng hoá bán ra càng nhiều, số lƣợng ngƣời cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng khốc liệt. Kết quả của cạnh tranh là loại bỏ những đơn vị làm ăn kém hiệu quả và giữ lại những DN làm ăn hiệu quả. “Nhƣ vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trƣờng” 1.
Phân loại cạnh tranh Có nhiều tiêu thức phân loại cạnh tranh, tuy nhiên, một số cách phân loại cơ bản đó là: Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh: gồm có hai loại cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua và cạnh tranh giữa ngƣời mua và ngƣời mua. Cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình. Mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên. Cạnh tranh giữa ngƣời mua và ngƣời 7 mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trƣờng mức cung nhỏ hơn mức cầu.
Lúc này hàng hóa trên thị trƣờng sẽ khan hiếm, ngƣời mua để đạt đƣợc nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những ngƣời mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên “Cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền KTTT sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng đƣợc coi là thƣợng đế của ngƣời bán, là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của DN. Do vậy các DN phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ƣu thế và lợi thế cho mình.” Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh Theo tiêu thức này cạnh tranh đƣợc chia: thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo “Thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trƣờng nơi rất nhiều ngƣời bán cùng cung cấp sản phẩm tƣơng tự nhau về phẩm chất, quy cách, chủng loại, mẫu mã đƣợc gọi là thị trƣờng cạnh tranh hoàn hỏa. Ở trên thị trƣờng này, giá cả sản phẩm là do cung- cầu trên thị trƣờng quyết định. Các DN đƣợc tự do ra nhập, rút lui khỏi thị trƣờng.
Do đó, các DN tham gia kinh doanh muốn thu đƣợc lợi nhuận tối đa phải tìm mọi biện pháp giảm chi phí đầu vào, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Thị trƣờng cạnh tranh không hoàn hảo: loại thị trƣờng phổ biến nhất hiện nay là thị trƣờng cạnh tranh không hoàn hảo. Một số DN sản xuất kinh doanh lớn nắm giữ sức mạnh thị trƣờng. Các DN trên thị trƣờng này kinh doanh những loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau.
Sự khác biệt giữa những loại hàng hoá, dịch vụ này ở nhãn hiệu. Do đó có những loại hàng hoá, dịch vụ chất lƣợng nhƣ nhau song sự lựa chọn của ngƣời tiêu dùng lại căn cứ vào uy tín, nhãn hiệu sản phẩm nổi bật của DN để quyết định tiêu thụ sản phẩm. Các hình thức của cạnh tranh không hoàn hảo đó là độc quyền, độc quyền tập đoàn, cạnh tranh mang tính độc quyền.” Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: cạnh tranh độc quyền và độc quyền 8 tập đoàn “ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh hƣởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá rất cao và những ngƣời này có thể làm thay đổi giá cả thị trƣờng. Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua.
Độc quyền bán tức là trên thị trƣờng có ít ngƣời bán và nhiều ngƣời mua, lúc này ngƣời bán có thể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thu đƣợc là tối đa, còn độc quyền mua tức là trên thị trƣờng có ít ngƣời mua và nhiều ngƣời bán khi đó khách hàng đƣợc coi là thƣợng đế, đƣợc chăm sóc tận tình và chu đáo nếu không những ngƣời bán sẽ không lôi kéo đƣợc khách hàng về phía mình. Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế, tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến ngƣời tiêu dùng. Vì vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh.Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít ngƣời sản xuất. Lúc này cạnh tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lƣợng nhỏ các DN.
Do vậy mọi DN phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lƣợng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thị trƣờng. Một sự thay đổi về giá của DN cũng sẽ gây ra những ảnh hƣởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của DN khác. Những DN tham gia thị trƣờng này là những ngƣời có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu tƣ lớn. Do vậy việc thâm nhập vào thị trƣờng của các đối thủ cạnh tranh thƣờng là rất khó.” Căn cứ vào phạm vi kinh tế chia cạnh tranh thành cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành “Cạnh tranh nội bộ ngành: DN trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm cạnh tranh với nhau trên thị trƣờng.
Trong cuộc cạnh tranh này thƣờng diễn ra sự thôn tính, mua bán lẫn nhau, các DN phải áp dụng mọi biện pháp để thu đƣợc lợi nhuận nhƣ cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, 9 giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các DN nếu không có NLCT sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản. Cạnh tranh giữa các ngành: các chủ DN sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau cạnh tranh nhau nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, vị thế và an toàn.