CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm, vai trò và các loại hình cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh a.
Khái niệm cạnh tranh Hiện nay, do nhiều cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau nên xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.Trong cuốn Giáo trình Quản trị chiến lược thì :“Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh nhằm giành/giữ được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng.” (Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Hoàng Việt, 2015) Theo Michael Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”.
(Michael Porter, 1998) Quan điểm của Adam Smith: “Cạnh tranh có thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn bộ xã hội được lợi do năng suất của doanh nghiệp tăng lên tạo ra”. Paul Samuelson thì : “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng”, (Begg và các tác giả, 2008) Và trong bài khoá luận này, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể trên thị trường nhằm tăng năng suất, lợi nhuận, chiếm lĩnh thị trường và khách hàng. Khái niệm lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh đặc biệt của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đạt được chất lượng vượt trội, năng suất vượt trội, sự đổi mới vượt trội và đáp ứng khách hàng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh. Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 Theo Michael E.
Porter đã viết trong quyển Lợi thế cạnh tranh (2008) nhận định: “Lợi thế cạnh tranh sẽ xuất phát chính từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế này có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ hoặc là việc cung cấp cho họ những lợi ích vượt trội hơn so với đối thủ và khiến cho người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn”, lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, như chất lượng sản phẩm, dịch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật. Theo Nguyễn Hữu Lam và các tác giả (2011), “lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty mà những năng lực phân biệt này được khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo ra giá trị khách hàng. Bốn nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách hàng”.
Qua đó, có hiểu đơn giản lợi thế cạnh tranh là vị thế mà một doanh nghiệp muốn đạt được so với đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh gắn liền với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Porter, doanh nghiệp có thể lựa chọn 1 trong 3 lợi thế cạnh tranh bền vững là: Chi phí thấp, khác biệt hóa hoặc tập trung hóa. Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh sẽ hơn đối thủ cạnh tranh, có thể dễ dàng hơn trong việc có được khách hàng, lợi nhận, thị phần,… là những mục tiêu mà cạnh tranh, các doanh nghiệp hướng đến.
Một doanh nghiệp sẽ thua thiệt nếu không có cho mình lợi thế cạnh tranh. Vì vậy các doanh nghiệp đều tìm cách để tạo lập, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho mình. Đ ể tạo lập lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải cung ứng được các giá trị với chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh hoặc cung ứng các giá trị đối thủ cạnh tranh không thể hoặc khó đáp ứng được cho khách hàng. Từ đó giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn.
Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cả người tiêu dùng và nền kinh tế - Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. - Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ.
- Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động lực phát triển của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cạnh tranh là biểu hiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Cạnh tranh là điều kiện giáo dục tính năng động của nhà doanh nghiệp bên cạnh đó góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm mới. Điều này chứng tỏ chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo có thể dẫn tới xu hướng độc quyền trong kinh doanh. Các loại hình cạnh tranh Dựa trên các tiêu thức khác nhau người ta phân thành nhiều loại hình cạnh tranh khác nhau. Căn cứ vào chủ thể tham gia vào thị trường Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị trường cạnh tranh được chia làm 3 loại: - Cạnh tranh giữa người bán với nhau: là sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng hóa tranh giành khách hàng và chiếm lĩnh thị trường. Điều này khiến cho giá cả hàng hóa giảm giúp có lợi cho người tiêu dùng.
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Thông thường người mua muốn mua với giá thấp còn người bán lại muốn bán với giá cao, bởi vậy người mua và người bán sẽ thương lượng với nhau để đưa ra mức giá phù hợp cuối cùng. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: loại cạnh tranh này thường xảy ra ít hơn so với các loại cạnh tranh khác. Cạnh tranh này xảy ra khi lượng cung nhỏ hơn cầu khiến cho giá cả hàng hóa tăng cao, cạnh tranh trở nên gay gắt khi người mua phải chấp nhận chi giá cao hơn để mua được thứ họ cần. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh gồm 2 loại: Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 - Cạnh tranh giữa nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hóa nhằm giành giật điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là các doanh nghiệp ở các ngành kinh tế cạnh tranh với nhau với mục đích thu lợi nhuận cao nhất về mình. Sự phân bổ vốn đầu tư giữa các ngành kinh tế một cách tự nhiên sẽ hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường Căn cứ vào tính chất của việc cạnh tranh, cạnh tranh được chia làm 2 loại: - Cạnh tranh hoàn hảo: xảy ra khi có nhiều người bán cùng một loại sản phẩm. Không có sự khác biệt về mẫu mã, công dụng với nhau.
Nhưng không ai có đủ khả năng khống chế giá hàng hóa trên thị trường. Để có thể dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh hoàn hảo này, người bán sẽ phải giảm giá hoặc tìm ra sự khác biệt trong sản phẩm của mình so với những người bán khác. - Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ khả năng và thế lực để chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 loại: Độc quyền nhóm là trong một ngành chỉ có 1 số ít người sản xuất, cung ứng hàng hóa/ dịch vụ đó.
Cạnh tranh manh tính độc quyền xảy ra khi trong thị trường có rất ít người bán hàng hóa, dịch vụ đó. Giá cả của sản phẩm sẽ do chính người bán quyết định. Không dựa vào mối quan hệ cung – cầu. Khái niệm năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh” là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một doanh Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực cạnh tranh, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu doanh nghiệp đề ra”.