CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Về cạnh tranh: Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện. Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Theo nhà kinh tế học Michael Porter (1998): “Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Ngoài ra còn rất nhiều các cách hiểu khác nhau về cạnh tranh, song có thể tổng kết lại như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó tồn tại sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình”.
6 Luan van Về năng lực: Theo D.Salganik (2001): “Năng lực không chỉ là kiến thức và kĩ năng, nó nhiều hơn thế. Năng lực bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tập lý trông một hoàn cảnh cụ thể”. Tóm lại, có thể nói năng lực là tập hợp các kĩ năng, kiến thức, khả năng tư duy cần phải có của con người để xử lý, đáp ứng công việc, giúp con người làm việc hiệu quả. Về năng lực cạnh tranh: Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất mặc dù thuật ngữ này đã được phổ biến rất rộng rãi.
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh xét ở các góc độ khác nhau. Luận văn này sẽ chủ yếu đề cấp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Theo nhà quản trị chiến lược Michael Porter (1998): “Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao”.
Từ những quan niệm khác nhau trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Các cấp độ năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh gồm có ba cấp độ: Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp độ ngành, năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. - Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế. Đồng thời, 7 Luan van duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó.
Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó. - Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành: Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp (HLFIC) của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, năng lực cạnh tranh cấp độ ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra thu nhập cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Năng lực kinh doanh của ngành còn thể hiện ở thị phần, cơ cấu và năng lực cạnh tranh nội bộ ngành, các ngành công nghiệp phụ trợ và sự kết hợp các yếu tố đó với nhau. - Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: Năng lực này được thể hiện ở chiến lược kinh doanh thích hợp và hiệu quả kinh doanh từ khâu nắm bắt thông tin đến khâu tổ chức sản xuất, từ đổi mới công nghệ tới phương pháp quản lý, phục vụ, từ đổi mới mặt hàng, các loại hình dịch vụ đến công việc tiếp thị, quảng cáo.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị trường, lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh và một số tiêu chí khác như nguồn lực về vốn, công nghệ, con người, quản lý, chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối xúc tiến, … - Năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm: Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết thông qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại có thể được đánh giá thông qua: giá sản phẩm, sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương hiệu… so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm. Về nâng cao năng lực cạnh tranh: Từ các nội dung trên ta có thể hiểu nâng cao năng lực cạnh tranh là tổng hợp các biện pháp, giải pháp để có thể tăng cường thế mạnh của các nguồn lực, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh, vượt qua các đối thủ khác, giành lấy thị phần và khách hàng về phía mình. Nâng cao năng lực cạnh tranh là hoạt động vô cùng cần thiết và mang tính cấp thiết đối với tất cả các doanh nghiệp hiện nay.
Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam, trước thực tiễn hội nhập kinh tế và sự yếu kém vốn có thì việc nâng cao 8 Luan van năng lực cạnh tranh quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh gay gắt đến từ các doanh nghiệp khác trên thế giới. Lý thuyết cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Một số lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của M. Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụ ngang bằng.
Theo lý thuyết thương mại truyền thống năng lực cạnh tranh được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động.Porter, NLCT phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo ra sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt của sản phẩm. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế của mình để đạt thắng lợi trong cạnh tranh. Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh: - Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động thường được xem là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh.
- Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho khách hàng, giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ. Lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp. TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp” được đăng trên tạp chí khoa học thương mại của trường đại học Thương Mại thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là: tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp người ta thường sử dụng các tiêu chí có thể được lượng hóa trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Cụ thể gồm các tiêu chuẩn sau: Bảng 1.1: Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực cạnh tranh tổng thể NLCT nguồn NLCT thị trường Năng lực tài chính Thị phần thị trường Năng lực quản trị lãnh đạo Chính sách sản phẩm 9 Luan van Năng lực nguồn nhân lực Chính sách định giá Quy mô sản xuất, kinh doanh Mạng lưới phân phối Cơ sở vật chất kỹ thuật Công cụ xúc tiến thương mại Hiệu suất R&D Uy tín và thương hiệu ⮚ Các năng lực cạnh tranh nguồn gồm: Năng lực tài chính: Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì tài chính là yêu cầu đầu tiên, từ mua thành phẩm về đầu tư cơ sở hạ tầng, trang trí, chi phí cho nhân công, … tất cả đều cần đến tài chính. Đây là một chỉ tiêu không thể thiếu trong các hoạt động kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào. Thông qua chỉ tiêu này công ty sẽ đánh giá được hoạt động kinh doanh nói chung của một doanh nghiệp và trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.