CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản, một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: Kinh tế học định nghĩa rằng cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp (Paul A. Samuelson and William D.
Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất tiêu thụ thị trường có lợi nhất (Từ điển Bách Khoa Việt Nam, 2011). Hay cạnh tranh là giành lấy thị phần, là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hoá lợi nhuận trong ngành và theo đó giá cả có thể giảm đi. Hiện nay cạnh tranh là hợp tác đan xen nhau, nhưng xu thế chính là hợp tác (Michael E.
Cạnh tranh là động lực thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ và phát triển kinh tế thị trường. Cạnh tranh vừa là động lực, vừa là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tự khẳng định vị trí của mình, tự hoàn thiện và phát triển vươn lên giành ưu thế so với các đối thủ. Chính vì vậy, cạnh tranh thực chất là một cuộc chạy đua không có đích cuối cùng của các doanh nghiệp để đưa ra các biện pháp kinh tế tích cực, sáng tạo nhằm tồn tại và phát triển trên thương trường. Dưới động lực cạnh tranh, con người, doanh nghiệp được tự do sáng tạo và cống hiến nhiều hơn, xã hội được sử dụng nhiều của cải hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Qua những định nghĩa trên ta có thể khái quát rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể có cùng mục đích phải đạt được, xảy ra trong một môi trường cụ thể, có những ràng buộc chung; diễn ra trong khoảng thời gian và không gian xác định” 1. Năng lực cạnh tranh Thời kỳ đầu những năm 90, vẫn chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến (Michael E. Nguyên nhân dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh do quan niệm khác nhau, như: Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế (Goode, 2003). Năng lực cạnh tranh ít nhiều chỉ phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới cận dưới ở đây rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì hiện tại hoặc sau này sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản (Krugman, 1994).
Năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng suất Michael E. Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, người ta xem xét theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Đề tài tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới (Nguyễn Văn Thanh, 2003).
Hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm tốt hơn sản phẩm của đối thủ xét về mặt giá cả cũng như các chất lượng phi giá cả khác (WEF, 2002). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nhận thấy năng lực cạnh tranh về cơ bản là một khái niệm ở mức doanh nghiệp. Xét cho cùng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đó đưa ra thị trường quyết định. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu có thể sản xuất các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao và chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh ở trong nước và quốc tế.
Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận dài hạn và khả năng của nó để bồi hoàn cho người lao động, tạo thu nhập cho các chủ sở hữu. Nói chung, ta có thể khái quát: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra, duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững”. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế là nền tảng cho sự cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, những cái mà các đối thủ cạnh tranh khác không có. Lợi thế cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài, hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.
Nếu doanh nghiệp chỉ tập trung vào mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hoá sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo thành công lâu dài cho sản phẩm mà điều quan trọng là phải xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Các doanh nghiệp có thể thực hiện những hành động sau đây để tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững: nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả các hoạt động, đổi mới và nâng cao sự thoả mãn khách hàng (Michael E. Mỗi yếu tố đều có sự ảnh hưởng đến việc tạo ra sự khác biệt. Bốn yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn thông qua việc hạ thấp chi phí hay tạo sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ.
Từ đó, doanh nghiệp có thể làm tốt hơn đối thủ và có lợi thế cạnh tranh. Từ đó ta có thể hiểu lợi thế cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất nào đó có được các ưu thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh, được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sử dụng để nắm bắt cơ hội, giành thắng lợi trước đối thủ. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năm nhóm yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh gồm: năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, nghiệp vụ quản lý), chất lượng nhân lực, năng lực marketing (định hướng khách hàng, phát triển sản phẩm, tiếp thị, phát triển thị trường, kiểm soát hoạt động phân phối, mở rộng mạng lưới bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (WEF, 2002). Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh gồm 4 nhóm yếu tố là: trình độ, năng lực và phương thức quản lý; năng lực marketing; khả năng nghiên cứu phát triển; năng lực sản xuất (WEF, 2002) và thương hiệu (Arthur A.
Trình độ công nghệ Công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất, đến trình độ tự động hoá của doanh nghiệp. Công nghệ thân thiện môi trường là xu thế và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Trình độ lao động Con người là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Trình độ, chất lượng của đội ngũ lao động ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp. Con người phải có trình độ, cùng với lòng hăng say làm việc thì mới tiếp cận, vận hành được những máy móc thiết bị công nghệ cao. Đó là cơ sở để tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Trình độ và năng lực quản lý Tăng cường năng lực quản lý và điều hành doanh nghiệp sẽ góp phần quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trọng trong việc đưa doanh nghiệp giành thắng lợi trên thương trường trước các áp lực cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi. Năng lực tài chính Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh được trước hết phải có đủ năng lực về tài chính. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp trong cạnh tranh.
Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong thực tế không có doanh nghiệp nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả các mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, điều quan trọng nhất là doanh nghiệp có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung vốn. Năng lực marketing Hệ thống bán hàng và các hoạt động Marketing đưa sản phẩm đến với khách hàng, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Chất lượng phục vụ khách hàng góp phần không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Nó xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng khách hàng, giữ khách hàng trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp. Để đánh giá năng lực Marketing của doanh nghiệp cần phải đánh giá được hệ thống phân phối của các doanh nghiệp, các chính sách về giá, chiết khấu, hoa hồng, các chính sách chăm sóc. Năng lực nghiên cứu và phát triển Nghiên cứu và phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ứng dụng những công nghệ mới kịp thời, để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường như: phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 quy trình sản xuất để giảm chi phí… Các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược phát triển sản phẩm mới rất quan tâm đến hoạt động nghiên cứu và phát triển, họ còn hợp tác với các cơ quan nghiên cứu như các trường đại học để đưa các công trình nghiên cứu mới vào sản xuất.